Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 09:14 PM
 

Sự ra đời của tàu Yamato 1

Yamato 1, là con thuyền được xây dựng vào đầu những năm 1990 của Mitsubishi. Nó dùng nguyên tắc từ thủy động lực học để di chuyển, sử dụng chất lỏng heli lạnh siêu dẫn,. thuyền yamato 1 là mẫu đầu tiên vận hành theo loại này. Nó đã được hoàn thành tại Nhật Bản vào năm 1991, bởi Ship& Ocean Foundation( sau này được biết đến với tên Ocean Policy Reseach Foundation)(viện nghiên cứu chính sách biển). Con tàu đàu tiên thành công được đưa tới cảng Kobe vào tháng 6/1992.

Vào năm 1992, Hãng Misubishi đã tiến hành chạy thử con tàu Yamato1_ con tàu đầu tiên công khai trên thế giới vận hànhbằng hệ thống đẩy từ thủy động _MHD( magneto-hydrodynamic). Yamato 1 di chuyển bởi 2 MHD thruster không cần 1 thiết bị di chuyển nào. MHD hoạt động bằng cách áp dụng một từ trường lên chất lỏng dẫn điện. Chất lỏng được dùng trong MHD thruster của tàu Yamato 1 là nước biển

MHD giúp:

- loại bỏ những tiếng ồn , chống rung , chạy êm ,

- thoát khỏi khiếm khuyết những tàu thông thường với phần chân vịt( tạo sức đầy ) bị hạn chế tốc độ di chuyển , làm hao mòn hệ thống máy khi sử dụng với thời gian dài, gây ra những âm thanhmà những thiết bị định vị tàu ngầm có thể phát hiệ n

Khoa học đã khám phá ra nguyên lí đàng sau MHD khoảng 150 năm về trước . Nhưng sự hoài nghi về tính khả thi của MHD đã làm kéo dài thới gian thử nghiệm đến gần thập niên 1960, với sự phát triển của vật liệu siêu dẫn, taọ điều kiện cho sự chế tạo tàu yamato-1

Nguyên lí hoạt động

Nó có hai tấm kim loại đặt dọc theo thân tàu và chìm vào nước biển, hai tấm kim loại này được nối vào một nguồn điện , do đó có dòng điện chạy từ tấm này sang tấm kia.

Năng lượng mà tàu Yamato sử dụng được hình thành bởi sự dẫn truyền 1 dòng điện qua từ trường mạnh nằm ngập sâu dưới nước biển.Từ trường có phương thẳng đứng để lực từ tác dụng lên dòng điện cũng như là dòng nước biển.Lực từkích thích các hạt phân tử, nguyên tử Clo và Natrong nước biển và sự va chạm của chúng tạo ra lực đầy ( phản lực ) giúp con tàu tiến về phía trước

Nam châm làm bằng vật liệu siêu dẫn được chế tạo bao quanh hai bộ phận tạo lực đầy của tàu .Giúp duy trì chúng với nhiệt độ ởmức thấplà một khoang chức chất lỏng Helium trong môi trường chân không.2 cực nguồn điện được gắn vào mỗi đầu máynằm ngập dưới nước biển. Từ trường kết hợp với dòng điện chạy qua nó kích thích các hạt trong nước biển tạo ra lực đẩy , giúp không cần tiêu tốn năng lượng dầu như những loại tàu khác

Trong những năm 1990, Mitsubishi xây dựng 1 số tàu kiểu mẫu được đẩy bằng hệ thống MHD. Các con tàu này chỉ có thể đạt vận tốc tối đa 15km/h, mặc dù đó là cao hơn dự đoán

Bài tổng hợp : Phạm Mai Đông Nghi _ Nguyễn Thị Hồng Trân - Lớp 11A3- trường Lê Hồng Phong

Nguồn en.wikipedia.org

www.mesj.or.jp

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Tàu Yamato  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 10:55 PM
 
Tàu biển Yamato,

con tàu thí nghiệm dùng lực từ

Nguồn gốc:Yamato-1 là một tàu biển được chế tạo vào đầu những năm 1990.Tập đoàn Mitubishi(Nhật Bản) thông qua các công ty hỗ trợ khác như Mitubishi Heavy Industry,Ltd ở Wadasaki-cho Hyogo-ku,Kobe,đã sản xuất ra con tàu biển Yamato-1

(Yamato 1 is a boat built in the early 1990s by Japanese conglomerate "The Mitsubishi Group" through their subsidiary company Mitsubishi Heavy Industries, Ltd at Wadasaki-cho Hyogo-ku, Kobe).

Con tàu này sử dụng nguyên lí Từ-Thủy động học để vận hành.Nó chạy bằng dòng chất lỏng có tính siêu dẫn(heli khô) và có thể đạt đến vận tốc 15 km/h(8knots).

(It uses a magnetohydrodynamic drive, driven by a liquid helium-cooled superconductor, and can travel at 15 km/h (8 knots)).

Một số hình ảnh của tàu biển Yamato

Yamato-1 là bản nguyên mẫu lần đầu tiên được thử nghiệm của con tàu này.Nó được hoàn thành vào năm 1991 tại Nhật Bản bời tổ chức Ship & Ocean Foundation(sau này còn được biết với tên gọi Ocean Policy Reseach Foundation).Con tàu được chạy thử nghiệm thành công lần đầu tiên tại cảng Kobe vào tháng sáu năm 1992.

(The Yamato 1 was the first working prototype of its kind. It was completed in Japan in 1991, by the Ship & Ocean Foundation (later known as the Ocean Policy Research Foundation). The ship was first successfully propelled in Kobe harbour in June 1992.)

Cảng Kobe

Yamato-1 được đẩy bằng phản lực tạo ra bởi lực từ,theo nguyên lí từ thủy động học.Từ thủy động học bao gồm từ trường,chất lỏng và dòng điện.Từ thủy động hoc dựa trên nguyên lí căn bản của điện từ học.Khi từ trường và dòng điện giao nhau trong lòng chất lỏng,xuất hiện lực từ tác dụng lên dòng điện và cũng tác dụng lên chất lỏng,đẩy chất lỏng chuyển động theo phương vuông góc với cả đường sức từ lẫn dòng điện.

(Magnetohydrodynamics involves magnetic fields (magneto) and fluids (hydro) that conduct electricity and interact (dynamics).1 MHD technology is based on a fundamental law of electromagnetism: When a magnetic field and an electric current intersect in a liquid, their repulsive intersection propels the liquid in a direction perpendicular to both the field and the current.2)

Cơ chế hoạt động của tàu:

Trong con tàu có hai tấm kim loại đặt dọc theo thân tàu và chìm trong nước biển .Hai tấm kim loại này được nối vào một nguồn điện.Do đó có dòng điện chạy từ tấm này sang tấm kia.Dòng điện này chạy trong từ trường rất mạnh của những nam châm điện rất mạnh đặt bên trong tàu.Từ trường có phương thẳng đứng để cho lực từ tác dụng lên dòng điện ,cũng là tác dụng lên nước biển,tạo ra dòng nước biển chạy dọc theo thân tàu ra phía sau.Do đó,phản lực đẩy tàu chuyển động lên phía trước.

Nhóm: Lê Kim Phụng+Nguyễn Ngọc Xuân lớp 11A5-trường Lê Hồng Phong


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: tàu Yamato 1  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ bảy, 18 Tháng mười 2008, 11:47 PM
 

Trường hợp đặc biệt của hiện tượng cảm ứng điện từ, là sự phát sinh suất điện động tự cảm trong mạch do sự biến thiên của chính dòng điện đang chạy trong mạch gây ra. Suất điện động tự cảm Etc tỉ lệ với tốc độ biến thiên của dòng điện I theo thời gian t:

«math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mrow»«msub»«mi»E«/mi»«mi»tc«/mi»«/msub»«mo»=«/mo»«mi»L«/mi»«mfrac»«mi»dI«/mi»«mi»dt«/mi»«/mfrac»«/mrow»«/math», trong đó L là hệ số tự cảm của mạch. Hiện tượng tự cảm chống lại sự biến thiên của dòng điện trong mạch, gây ra cảm kháng và sự lệch pha giữa dòng điện và hiệu điện thế trong mạch điện xoay chiều.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: tự cảm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ bảy, 18 Tháng mười 2008, 11:35 PM
 Hình ảnh về các đường cảm ứng từ (đường sức) của từ trường. Có thể thu được từ phổ bằng cách rắc mạt sắt lên tấm bìa đặt trong từ trường và gõ nhẹ trên tấm bìa. Khi đó các mạt sắt trở thành nam châm nhỏ và được sắp xếp dọc theo đường cảm ứng từ.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: từ phổ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ bảy, 18 Tháng mười 2008, 11:40 PM
 

Từ thông F qua diện tích nhỏ DS là đại lượng vật lý có trị số bằng tích của DS với hình chiếu của vectơ cảm ứng từ «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» lên pháp tuyến «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»n«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» của DS: «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mrow»«csymbol»«mo»§#934;«/mo»«/csymbol»«mo»=«/mo»«mi»B«/mi»«mo».«/mo»«csymbol»«mo»§#916;«/mo»«/csymbol»«mi»S«/mi»«mo».«/mo»«mi»cos«/mi»«csymbol»«mo»§#945;«/mo»«/csymbol»«/mrow»«/math» (a là góc hợp bởi «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»n«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math») (H. 108): đơn vị là vêbe (ký hiệu là Wb) trong hệ SI.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: từ thông  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ bảy, 18 Tháng mười 2008, 11:41 PM
 Đặc tính của các vật liệu từ (chất sắt từ chẳng hạn) có khả năng hút mạt sắt hay làm quay kim la bàn.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: từ tính  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ bảy, 18 Tháng mười 2008, 11:42 PM
 

Tính chất đặc trưng của chất sắt từ thể hiện ở chỗ từ tính của chất sắt từ không những phụ thuộc vào cường độ của từ trường từ hóa mà còn phụ thuộc rất nhiều vào qua trình nhiễm từ trước đó của vật liệu.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: từ trễ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ bảy, 18 Tháng mười 2008, 11:43 PM
 

Một dạng riêng của điện từ trường. Từ trường là môi trường vật chất đặc biệt tồn tại quanh các dòng điện tích chuyển động và thể hiện bằng tác dụng từ lực. Từ trường xuất hiện cả khi có sự thay đổi của điện trường theo thời gian. Từ trường được đặc trưng bằng vectơ cảm ứng từ «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» hoặc cường độ từ trường «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»H«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math». Phương của từ trường tại một điểm là phương của trục một nam châm nhỏ đặt cân bằng tại điểm đó, chiều của từ trường là chiều từ cực nam đến cực bắc của nam châm.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: từ trường  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ bảy, 18 Tháng mười 2008, 11:45 PM
 Xung quanh Trái Đất tồn tại một từ trường mà vectơ cảm ứng từ «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» ở một địa điểm được xác định bằng thành phần nằm ngang Bn, độ từ khuynh I và độ từ thiên D; Bn, I và D phụ thuộc vào địa điểm và biến đổi chậm với thời gian. Đi từ xích đạo đến hai cực địa từ (không trùng với các địa cực) I thay đổi từ 0o đến ± 90o, Bn thay đổi từ 4,2.10-5 T đến 0. Độ từ thiên D (là góc giữa kim nam châm và kinh tuyến từ) rất nhỏ (< 10o) nên cực bắc của kim nam châm trỏ gần đúng cực bắc địa lý.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: từ trường trái đất  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 04:40 PM
 

Từ trường Trái Đất (và từ trường bề mặt)được coi như một lưỡng cực từ trường, với một cực gần cực bắc địa lý và cực kia gần cực nam địa lý..

Vào năm 1600, nhà vật lí người Anh

W. Gilbert đã đưa ra giả thuyết Trái đất là một nam châm khổng lồ. Ông đã làm một quả cầu lớn bằng sắt nhiễm từ, gọi nó là "Trái đất tí hon" và đặt các từ cực của nó ở các địa cực. Đưa la bàn lại gần trái đất tí hon ông thấy trừ ở hai cực, còn ở mọi điểm trên quả cầu, kim la bàn đều chỉ hướng Nam Bắc. Hiện nay vẫn chưa có sự giải thích chi tiết và thỏa đáng về nguồn gốc từ tính của Trái Đất.

Năm 1940, một số nhà vật lý đã đưa ra giả thuyết "Đinamô" để giải thích nguồn gốc từ trường của trái đất. Theo thuyết này thì từ trường Trái đất chủ yếu được hình thành từ các dòng đối lưu trong chất lỏng của trái đất ở độ sâu trên 3000 km. Sự khác biệt về nhiệt độ trong chất lỏng của trái đất đã làm xuất hiện các dòng đối lưu. Nếu trong nhân của trái đất có một " từ trường nguyên thuỷ " thì các dòng đối lưu trên sẽ có vai trò như một cuộn dây trong máy phát điện. Dòng điện nhờ đó được hình thành và chính nó đã tạo ra từ trường cho trái đất. Tuy nhiên thuyết vẫn còn một số điểm chưa rõ ràng. Trong quá trình hình thành từ trường trái đất, cần có "từ trường nguyên thuỷ", nhưng từ trường này được hình thành từ bao giờ và bằng cách nào? Đây là một trong những tồn tại chưa giải quyết được của các ngành khoa học về Trái đất.

Những vật dụng nhiễm từ có khả năng chữa được nhiều bệnh

Gần đây, các nhà khoa học cho rằng ngoài từ trường chính của trái đất hình thành từ lõi ngoài chiếm 98%, còn có phần từ trường với nguồn gốc bên ngoài trái đất chiếm 2%, phần từ trường này lại hay biến đổi, là phần quan trọng gây ra những tác động đối với cơ thể sống.

Cũng như nam châm, Trái Đất có 2 cực địa từ, không trùng với 2 cực địa lý. Từ cực Bắc có toạ độ 700 Vĩ Bắc Và 960 Kinh Tây, trên lãnh thổ Canada, cách cực Bắc địa lý 800 km. Từ cực Nam có toạ độ 730 Vĩ Nam và 1560 Kinh Đông ở vùng Nam cực, cách cực Nam địa lý 1000 km. Trục từ trường tạo với trục trái đất một góc 110. Các từ cực thường có vị trí không ổn định và có thể đảo ngược theo chu kỳ. Do đó bản đồ địa từ cũng phải thường xuyên điều chỉnh (5 năm một lần). Việc thu nhập các thông tin từ vệ tinh đã phát hiện các vành đai bức xạ bao quanh trái đất ở môi trường khí quyển trên cao từ 500-600 km dến 60.000- 80.000 km: đó là từ quyển (tầng điện ly trở lên).

Bí ẩn về từ trường Trái Đất đã được làm sáng tỏ

Từ trường của Trái Đất có thể được tạo ra bởi các chuyển động mạnh của các chất dẫn điện lỏng trong lòng đất... Khám phá mới từ các nhà khoa học Pháp.

Các chất dẩn điện lỏng trong lòng đất đã sinh ra từ trường của Trái Đất. (Ảnh minh họa từ BBC)

Từ trường của Trái Đất có thể được tạo ra bởi các chuyển động mạnh của các chất dẫn điện lỏng trong lòng đất.

Kết quả nghiên cứu này đã được đăng tải trên tờ Le Figaro ngày 12/3.

Bằng cách tạo ra sự chuyển động mạnh của dung dịch na-tri lỏng trong ống nghiệm, một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS), Trung tâm nghiên cứu khoa học về Trái Đất và môi trường (CEA) và các trường đại học sư phạm tại Pa-ri và Li-ông đã tạo ra được từ trường Trái Đất trong phòng thí nghiệm.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy, từ trường được tạo ra mang nhiều đặc điểm giống với từ trường tự nhiên của Trái Đất.

Phần lớn các vật chất thiên văn trong vũ trụ như hành tinh, các vì sao và các dải thiên hà đều có từ trường.

Các từ trường này đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các vật chất trong không gian. Từ trường của Trái Đất cũng rất quan trọng với cuộc sống trên hành tinh. Nó bảo vệ chúng ta, giúp ta tránh được những tác động có hại của các tia vũ trụ và gió Mặt Trời.

Nếu không có từ trường, chúng ta sẽ không ngừng bị các vật chất độc hại tấn công và cuộc sống không thể duy trì trên Trái Đất. Tìm hiểu cơ cấu phát sinh ra từ trường Trái Đất, các hành tinh và các vì sao, là mục tiêu mà rất nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đuổi.

Từ năm 1919, Joseph Larmor, một nhà vật lý người Anh, đã đưa ra giả thuyết cho rằng từ trường của Mặt Trời được sinh ra do sự chuyển động của các chất lỏng dẫn điện.

ổng kết lại, ta thấy từ trường trái đất biểu hiện rất không ổn định. Những bất thường lớn từ những thời kỳ rất ngắn cho đến các giai đoạn lệch phương và đảo cực đều là hậu quả của sự suy sụp trường lưỡng cực. Nhưng ngay tiếp sau lại có sự tăng mạnh của cường độ từ trường, biểu thị một sự bền vững của hệ nam châm trái đất. Cho đến nay, người ta vẫn chưa quan sát thấy một tính chu kỳ nào. Do đó, chưa thể dự đoán một sự đảo cực sắp tới hay một sự tiếp tục suy yếu của thành phần lưỡng cực từ. Trường địa từ vẫn còn, chưa mất !

Nguồn gốc của địa từ trường

Trái đất coi như có cấu tạo gồm một vỏ bao ngoài (đá silicat hóa) từ mặt đất (0 km) đến độ sâu 2900km, một lõi cứng ở tâm, bán kính cỡ 1300km, và ở giữa là một nhân lỏng, chủ yếu là sắt nóng chảy từ độ sâu 2900 km đến độ sâu 5100km. Nhân là một chất dẫn điện rất tốt ở phần trên, nhiệt độ tới 3000oC và áp suất hơn một triệu at-môt-phe. Ở PHẦN DƯỚI, ÁP SUẤT LÊN TỚI 3,5 triệu atmôtphe khiến cho lõi trở thành cực kỳ cứng. Sự truyền tải nhiệt trong nhân lỏng thực hiện bằng đối lưu, vật chất nóng chuyển lên trên mặt, vật chất lạnh chuyển xuống dưới sâu và nguồn gốc của từ trường gắn liền với chuyển động đối lưu của chất lỏng dẫn điện này. Hoạt động của nó giống như hoạt động của một máy phát điện tự kích, nghĩa là không có sự tham gia của các hiện tượng bên ngoài.

Một nam châm khổng lồ.

Ngay từ năm 1838, Gauss, đã chứng tỏ rằng nguồn gốc chính của từ trường đo được trên mặt địa cầu lại định vị trong lòng trái đất. Còn các nguồn khác, gọi là các nguồn bên ngoài, định xứ ở các tầng cao khí quyển và xa hơn nữa, thì đóng góp không đáng kể chỉ vào cỡ sai số các phép đo.


Giống như một dây đàn dương cầm rung động theo một âm cơ bản và các họa âm, từ trường do nguồn gốc nội tại cũng được phân tích thành một thành phần nổi trội và các thành phần thứ cấp. Khi dời xa nguồn, các thành phần thứ cấp suy giảm rất nhanh. Tín hiệu từ chính yếu, còn gọi là trường lưỡng cực định tâm, giống như tín hiệu từ do một thanh nam châm khổng lồ đặt tại tâm trái đất gây ra. Cường độ của thành phần này chiếm khoảng 90% cường độ từ trường tổng cộng đo trên Mặt Ðất. Thành thử, trên Trái Ðất có trường lưỡng cực chiếm ưu thế, thì chỉ có hai cực từ, nghĩa là có hai điểm "đối nhau", mà tại đó từ trường địa phương là "thẳng đứng". Hiện nay, lưỡng cực nghiêng 11,5 độ so với trục quay quả đất. Vị trí của lưỡng cực thay đổi theo thời gian, nhưng trung bình cứ khoảng chục nghìn năm thì trục lưỡng cực lại trùng với trục quay.

Còn trường phi lưỡng cực, nghĩa là thiếu mất thành phần lưỡng cực nói trên, lại vô cùng phức tạp với số cực rất cao (tứ cực, bát cực, v.v....). Trong những khoảng thời gian cỡ vài trăm hay vài nghìn năm, thì các độ biến thiên trung bình của trường phi lưỡng cực này bằng không. Do vậy, ở thang cỡ chục nghìn năm thì trường địa từ quy về trường của một lưỡng cực định tâm mà các cực từ tương ứng với các cực địa lý.

Nhưng nếu từ trường Trái Ðất mất đi ?...

Dĩ nhiên, lúc đó mọi cơ cấu dẫn hướng theo la bàn từ đều mất tác dụng. Nhưng may thay, ngày nay các máy bay, tàu biển đã sử dụng được song song nhiều công nghệ định vị, dẫn đường như vệ tinh, rađa, hay các hệ thống hàng hải, hàng không quán tính. Thành thử lo ngại chính ở đây là sẽ mất đi màn chắn từ bảo vệ Trái Ðất khỏi bức xạ vũ trụ (chủ yêú là các prôtôn năng lượng rất cao từ các thiên hà và Mặt Trời đi tới).

Còn một số loài chìm di cư, loài rùa, thậm chí một số loại vi khuẩn sử dụng địa từ trường để dẫn đường, có thể sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên chắc chắn chúng vẫn có thể tổ hợp vài hệ thống định vị khác nhau để dò đường, khỏi lạc.

Mặt khác, như các nghiên cứu quá trình biến đổi của địa từ trường đã nêu trên, thì từ trường Trái Ðất không phải đột ngột mất đi, mà phải trải qua thời gian khá dài, ít nhất cũng phải vài trăm, vài nghìn năm. Như thế sẽ có đủ thời gian cho con người điều chỉnh được các thiết bị liên quan và nhiều thế hệ sinh vật có thể thích nghi dần. Và sự sống vẫn sẽ tồn tại !

Những điều thú vị về từ trường trái đất

Là tấm chắn bảo vệ trái đất, nhưng là tấm lá chắn vô hình, nên không ai có thể nhìn thấy từ trường trái đất. Song, chính cực quang lại tiết lộ cho chúng ta - những "người trần mắt thịt" - biết nó ở đâu.

Mặt trời không chỉ đem đến ánh sáng và hơi ấm mà còn là mối hiểm nguy của con người. Lý do: mặt trời liên tục phóng ra các hạt giàu năng lượng - gió mặt trời - vào vũ trụ và về hướng trái đất. Trước khi các hạt đó có thể chạm vào hành tinh của chúng ta thì chúng đã bị một tấm chắn ngăn lại, đó là từ trường của trái đất. Các nhà vật lý khẳng định rằng từ trường ngày càng yếu đi và sẽ dẫn đến sự thay đổi cực.

Từ trường giảm đi sẽ là thảm họa?

Từ trường là tấm chắn bảo vệ cho trái đất. Từ trường giảm đi thì ngày càng có nhiều tia cực tím đến bề mặt. Điều đó nghĩa là gì thì các cơn bão mặt trời trong quá khứ đã chỉ ra: Tháng giêng năm 1997 nó làm tê liệt một vệ tinh viễn thông trị giá 200 triệu dollar. 8 năm trước đó, nó đã làm hỏng mạng lưới điện ở Canada.

Các nhà khoa học cho rằng còn phải tính đến sự thay đổi thời tiết và khí hậu. Những cơn giông tố có lẽ sẽ xảy ra thường xuyên hơn và mạnh hơn. Lốc xoáy, lũ lụt cùng các kỳ hạn hán sẽ trở thành thông lệ.

Đối với một số loài động vật thì từ trường rất quan trọng vì chúng sử dụng từ trường để định hướng. Kiến, chim di cư, rùa và cá mập có lẽ sẽ lạc hướng nếu không có từ trường.

Sự thay đổi cực sẽ xảy ra muộn nhất là trong 1.000 năm

Thực sự là địa từ trường đã yếu đi rõ ràng - một dẫn chứng cho việc cứ một triệu năm có một lần thay đổi cực. Các nhà vật lý địa cầu đã tính toán rằng chậm nhất là 1.000 năm nữa thì điều đó sẽ xảy ra.

Từ trường trái đất có từ đâu?

Từ trường xuất hiện trong lòng trái đất . Nơi đó có nhân trái đất được cấu tạo chủ yếu là sắt. Nhân rắn bên trong được bao bọc bởi cái vỏ bằng sắt dạng lỏng. Do sức nóng từ trong nhân, kim loại sẽ chảy tràn lên bề mặt nhân, nguội đi và lại chìm xuống phía dưới. Đồng thời nó chảy theo đường xoắn ốc do trái đất quay. Sự chuyển động của sắt có khả năng dẫn điện sẽ làm xuất hiện một nguồn điện, tương tự như một máy phát điện khổng lồ. Và khi có dòng điện chảy thì sẽ xuất hiện từ trường.

Hình dạng của từ trường cũng giống như từ trường của một thỏi nam châm. Từ trường đi ra từ bán cầu nam và đi vào phía bán cầu bắc của trái đất. Hai nơi này được gọi là cực từ. Nó không trùng với cực nam và cực bắc địa lý mà cách nhau vài trăm cây số.

Từ trường vươn ra ngoài vũ trụ hơn 60.000 km. Nó tạo thành một cái vỏ bảo vệ chung quanh trái đất. Sự bảo vệ này là cần thiết vì mặt trời không ngừng phát ra các hạt tích điện, còn được gọi là gió mặt trời. Từ trường cản gió mặt trời và dẫn nó đi vòng qua trái đất. Từ trường bị biến dạng bởi gió mặt trời, hướng phía mặt trời bị nén lại, còn hướng kia thì xuất hiện một cái đuôi dài, có thể vươn vào vũ trụ đến 250.000 km.

Tại sao từ trường trái đất lại giảm?

Nguyên nhân từ trường giảm nằm ở trong lòng trái đất. Ở đó kim loại chảy lỏng xoay vòng quanh nhân ngoài. Bằng chuyển động cắt ngang từ trường nó tạo ra một dòng điện, dòng điện đó cũng tạo ra một từ trường nữa. Giả sử như hướng chuyển động đó giữ nguyên thì từ trường trước đó vẫn nguyên vẹn. Nhưng do đường chuyển động của nó thường xuyên thay đổi, từ trường được tạo ra cũng thay đổi và làm giảm bớt đi từ trường có trước.

Kết quả là trái đất đổi cực?

Cứ khoảng 1 triệu năm thì cực từ của trái đất thay đổi. Theo sự phỏng đoán của các nhà vật lý trái đất thì khi thay đổi cực, từ trường của trái đất không ổn định và phân ra làm nhiều từ trường nhỏ, bao bọc lấy trái đất khắp mọi hướng. Sau đó thì từ trường sẽ ổn định trở lại nhưng theo hướng ngược lại. Điều đó có nghĩa là đường đi của từ trường sẽ không phải là từ Nam đến Bắc mà từ Bắc đến Nam.

Từ trường trái đất - nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên

Không chỉ có các nhà vật lý mới bận tâm đến từ trường của trái đất. Thực tế thì từ trường cũng đóng một vai trò quan trọng trong thế giới động vật. Không có nó thì các loài chim di cư sẽ mất phương hướng. Nhà động vật học, giáo sư Wolfgang Wiltschko, người nghiên cứu hơn 35 năm qua về giác quan cảm nhận từ trường của chim di cư, đã chứng minh được điều đó bằng một thử nghiệm thông minh: trong một cái phễu lớn không có khả năng định hướng, Wiltschko đã nhốt một con chim hồng tước và để nó tìm hướng bay. Cũng như các loài chim di cư khác thường thay đổi hướng bay theo mùa. Mùa thu chúng bay về vùng ấm áp hơn ở phương Nam, trong tháng tư chúng lại bay trở về phương Bắc. Trong cuộc thử nghiệm, con hồng tước vẫn định hướng được rõ ràng về phương Bắc mà không có sự chỉ đường của thiên nhiên như vị trí mặt trời hay các vùng núi. Nếu cực từ tiếp tục dịch chuyển với tốc độ nhanh, thì điều này sẽ là một vấn đề nghiêm trọng đối với các loài chim di cư trong tương lai.
Nhóm Quế Cường + Hòang Vũ - lớp 11A3 - trường Lê Hồng Phong
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: từ trường trái đất 1