Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang:  1  2  3  4  (Tiếp theo)
Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

C.n. Ngựa, sức ngựa. Đơn vị thực dụng cũ để đo công suất. Trước đây rất thông dụng, nay ít dùng. Một mã lực Pháp (ký hiệu là CV) xấp xỉ bằng 736 oát, còn một mã lực Anh (ký hiệu là HP) xấp xỉ bằng 746 oát.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mã lực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Phủ lên mặt kim loại một hợp kim loại khác bằng phương pháp điện phân nhằm chống gỉ, chống ăn mòn, hay để trang trí.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạ điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Mạch điện chuyển (đổi) dòng (điện) xoay chiều thành dòng một chiều qua tải, trong đó dòng một chiều qua tải tồn tại trong cả khu kỳ (mạch chỉnh lưu cả chu kỳ) hoặc chỉ trong nửa chu kỳ (mạch chỉnh lưu nửa chu kỳ) của dòng xoay chiều. Thường dùng mạch chỉnh lưu dùng điốt bán dẫn (xem hình 82: sơ đồ bên phải là mạch chỉnh lưu cả chu kỳ, bên trái là mạch chỉnh lưu nửa chu kỳ).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch chỉnh lưu, bộ chỉnh lưu.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Mạch dao động trong đó có tụ điện với điện dung biến thiên và cuộn tự cảm dùng để lựa chọn sóng điện từ đi vào máy thu vô tuyến.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch chọn sóng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Mạch điện gồm cuộn (tự) cảm và tụ điện (mắc nối tiếp hay mắc song song) trong đó xảy ra quá trình biến thiên điều hòa của điện trường và từ trường (dao động điện từ), của dòng điện và hiệu điện thế (H. 83). Chu kỳ dao động riêng T của mạch được xác định bởi công thức Tômxơn:  trong đó L là độ tự cảm (hệ số tự cảm) của cuộn dây; C là điện dung của  tụ điện. Khi tần số dao động riêng của mạch xấp xỉ bằng tần số của tín hiệu tác dụng vào mạch thì xảy ra hiện tượng cọng hưởng: biên độ dao động trở nên cực đại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch dao động  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Mạch điện trong đó có các linh kiện khuếch đại (đèn điện tử, đèn bán dẫn…) làm nhiệm vụ khuếch đại các tín hiệu (dao động điện). Trong máy thu hay máy phát vô tuyến thường có mạch khuếch đại cao tần, mạch khuếch đại trung tần và mạch khuếch đại hạ tần (hay âm tần).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch khuếch đại  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Mạch điện chỉ cho những dòng điện có tần số nằm trong một giới hạn nào đó đi qua, những dòng điện có tần số nằm ngoài giới hạn thì bị suy giảm rõ rệt.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch lọc, bộ lọc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bộ phận của máy thu vô tuyến trong đó có các linh kiện chỉnh lưu (điện tử, bán dẫn) làm nhiệm vụ tách các dao động âm tần ra khỏi những dao động cao tần biến điệu.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch tách sóng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Bằng kỹ thuật đặc biệt (gọi là kỹ thuật plana) trên một đế bằng chất bán dẫn, thường là silic, người ta chế tạo được các điôt, tranzito, điện trở, tụ điện. Mạch chế tạo bằng cách nối các phần tử này lại với nhau để thực hiện một chức năng xác định gọi là mạch tích hợp bán dẫn.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch tích hợp bán dẫn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 07:20 PM
 

Một hệ gồm nguồn điện (một chiều hay xoay chiều), thiết bị tiêu thụ điện, dây dẫn và các phần tử khác để cho dòng điện chạy qua. Mạch điện có thể chia thành nhiều đoạn mạch khác nhau tùy theo chức năng của thiết bị điện trong đoạn mạch đó. Theo cấu hình của mạch điện người ta chia ra những loại mạch mắc nối tiếp, mắc song song và mắc hỗn hợp.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạch điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

(Maxwell James Clerk, 1831 - 1879), nhà vật lý Anh, đã xây dựng lý thuyết về các hiện tượng điện từ, đưa ra khái niệm về trường điện từ, sóng điện từ; xây dựng lý thuyết điện từ ánh sáng; tìm ra sự phân bố các phân tử khí theo vận tốc; là một trong các người sáng lập ra vật lý thống kê cổ điển.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Mắcxoen  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bộ khuếch đại (hay máy phát lượng tử) hoạt động ở dải sóng vô tuyến siêu sao. Thuật ngữ “Maser” là viết tắt từ cụm từ tiếng Anh (Microwave Amplification by Stimulated Emission Radiation), có nghĩa là “khuếch đại sóng siêu cao tần do bức xạ cưỡng bức”. Cùng nguyên tắc cấu tạo và hoạt động như lade.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: made  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một vật dẫn rỗng có tác dụng chắn không cho điện trường ngoài ảnh hưởng đến các vật nằm trong khoang rỗng của nó. Tuy nhiên màn không chắn được ảnh hưởng của điện trường của các điện tích ở bên trong nó đối với không gian bên ngoài. Lồng Farađây là một kiểm màn chắn tĩnh điện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: màn chắn tĩnh điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Màn ảnh của ống tia điện tử, đèn hình; trên mặt có phủ chất huỳnh quang, nhờ chất này màn sẽ phát sáng tại các vị trí bị chùm êlectrôn đập vào. Chất huỳnh quang thường là phốt pho có phụ thêm một lượng rất nhỏ (0,01% - 1%) hoạt chất như Mn, Cu, Bi, Ag. Đúng ra nên gọi là màn lân quang

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: màn huỳnh quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Tổ hợp (hệ) các hạt (nguyên tử, ion, phân tử) sắp xếp có trật tự và có tính lặp lại tuần hoàn theo cả ba chiều trong không gian. Nếu bỏ qua dao động nhiệt thì các hạt được coi nhà nằm ở những vị trí xác định gọi là nút mạng. Các nút mạng nằm trên một mặt phẳng tạo nên một mặt mạng. Tập hợp các mặt mạng này chia cắt không gian bên trong tinh thể thành các hình hộp đồng nhất, đó là những ô mạng
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mạng tinh thể  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Danh từ để chỉ những máy phát điện một chiều loại nhỏ, trong đó có một nam châm vĩnh cửu tạo ra từ thông.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: manhêtô  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hiện tượng dân lên hay tụt xuống của mức chất lỏng ở bên trong các ống có bán kính rất nhỏ (gọi là ống mao dẫn), trong các vách hẹp, khe hẹp và các vật xốp, so với mức chất lỏng ở các ống rộng. Nguyên nhân hiện tượng là do lực tương tác phân tử (giữa các phân tử chất lỏng với nhau, giữa phân tử chất lỏng với phân tử chất rắn) khiến mặt ngoài chất lỏng bị cong, gây ra áp suất phụ làm di chuyển chất lỏng. Nếu chất lỏng làm ướt thành ống hoặc vách ngăn thì chất lỏng dâng lên, nếu chất lỏng không làm ướt thành ống hoặc vách ngăn, thì nó tụt xuống. Độ cao dâng lên (hoặc tụt xuống) (H. 85) tính theo công thức:  trong đó s là hệ số căng mặt ngoài (suất căng mặt ngoài), r là khối lượng riêng chất lỏng, g là gia tốc trọng trường và r là bán kính ống mao dẫn. Một cách tổng quát người ta thường gọi những hiện tượng do ảnh hưởng của lực tương tác phân tử lên sự cân bằng và chuyển động của mặt thoáng chất lỏng (hoặc các mắt ranh giới giữa chất lỏng và một chất khác) là hiện tượng mao dẫn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: mao dẫn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đặc điểm khách quan của vật quyết định bởi thành phần quang phổ và cường độ của ánh sáng mà vật bức xạ hay phản xạ, gây cho ta một cảm giác nhìn nhất định.

Nếu một vật bị rọi bằng ánh sáng trắng mà hấp thụ tất cả các bức xạ, trừ bức xạ có bước sóng khoảng 650 nm, chẳng hạn, thì vật có màu đỏ.

Màu sắc bản mỏng. Màu sắc xuất hiện trên các bản mỏng, chẳng hạn váng dầu loang trên mặt nước, màng bong bóng xà phòng, cánh của một số côn trùng,… được chiếu sáng bằng ánh sáng trắng. Màu sắc bản mỏng xuất hiện do sự giao thoa của hai chùm ánh sáng phản xạ ở hai mặt của bản, kết quả là chùm sáng phản xạ không chứa đủ mọi bức xạ như trong chùm sáng tới. Nếu trong chùm sáng phản xạ chỉ có hai, ba bức xạ đơn sắc được phản xạ với cường độ cực đại, thì hai, ba bức xạ ấy hợp lại không đủ gây ra cảm giác về màu trắng, mà cho ta một cảm giác về một màu nào đó. Do đó, khi đặt mắt để đón các chùm sáng phản xạ và điều tiết mắt để nhìn vào bản mỏng ta trông thấy bản mỏng có màu sắc. Màu sắc của bản mỏng phụ thuộc vào thành phần của chùm sáng tới và vào độ dày của bản. Nếu độ dày của bản không đổi (bản hai mặt song song) thì bản có một màu hoàn toàn xác định. Còn nếu độ dày của bản không đồng đều thì những điểm khác nhau nhuộm màu khác nhau và trên bản có thể xuất hiện những vân màu sắc khác nhau. Màu sắc bản mỏng còn phụ thuộc phương quan sát.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: màu sắc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một thiết bị cơ – quang (và đôi khi cả điện tử) nhằm thu được hoặc có định được hình ảnh các vật thể trên một bề mặt nhạy sáng (phim ảnh). Những bộ phận cơ bản của máy ảnh là: ống kính, một quang hệ phức tạp để tạo ra hình ảnh của vật cần chụp trên mặt phim bắt sáng: cửa sập là một hệ thống cơ khí hoặc điện tử quyết định thời gian cho ánh sáng tác dụng lên phim; buồng tối chính là hộp máy, che kín ánh sáng, thường làm bằng kim loại. Phim ảnh đặt trong buồng tối (hộp máy) ở vị trí ảnh thật của vật thu được qua ống kính.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy ảnh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thiết bị dùng để biến điện năng ở một hiệu điện thế xoay chiều này thành điện năng ở một hiệu điện thế xoay chiều khác mà không làm thay đổi tần số. Dạng đơn giản nhất của máy biến thế là hai cuộn dây dẫn đã được bọc chất cách điện quấn vào hai cạnh đối diện của một khung (lõi) bằng thép hay sắt pha silic (tôn silic) làm bằng nhiều lá mỏng ghép lại với nhau (H. 86). Nếu mắc cuộn thứ nhất (cuộn sơ cấp, có n1 vòng) vào mạng điện xoay chiều có hiệu điện thế hiệu dụng U­1 thì dòng điện xoay chiều trong cuộn đó sẽ làm cho sắt nhiễm từ và gây ra trong khung một từ thông biến thiên điều hòa từ thông này đi qua cuộn dây kia (cuộn thứ cấp, có n2 vòng) làm xuất hiện ở đó một hiệu điện thế cảm ứng xoay chiều với giá trị hiệu dụng U2 (lúc không tải). Nếu bỏ qua các mất mát năng lượng trong lõi biến thế thì hiệu điện thế hiệu dụng ở hai cuộn dây tỉ lệ với số vòng trong mỗi cuộn: , và cường độ hiệu dụng trong hai cuộn dây tỷ lệ nghịch với số vòng trong mỗi cuộn: .

Hằng số k được gọi là hằng số biến đổi của máy biến thế (gọi tắt là hệ số biến thế). Máy biến thế có thể là máy tăng thế (k < 1) hay máy hạ thế (k > 1).

Máy biến thế tự ngẫu. Máy biến thế trong đó cuộn sơ cấp và cuộn thứ cấp có phần chung, cuộn dây có hiệu điện thế thấp là một phần của cuộn dây có hiệu điện thế cao. Hệ số biến thế vẫn là:
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy biến thế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thiết bị để tạo các chùm hạt tích điện (êlectrôn, prôtôn, iôn…) được gia tốc nhờ điện trường tới những năng lượng lớn và hướng đến đập vào bia, gây ra những phản ứng hạt nhân cần nghiên cứu, hoặc sinh ra những tia bêta, tia gamma dùng trong công nghiệp, y tế… Có nhiều loại: máy gia tốc tĩnh điện, máy gia tốc thẳng, máy gia tốc tuần hoàn…

Máy gia tốc tĩnh điện. Máy gia tốc trong đó điện trường để tăng tốc các hạt là một trường tĩnh điện, do một hiệu điện thế lớn (vài triệu vôn) sinh ra. Trong máy gia tốc Van de Gráp (Van – der – Graaf) hiệu điện thế này thu được bằng cách tích điện dần vào một hình cầu kim loại. Máy gia tốc tĩnh điện không cho năng lượng cao (không quá 8 MeV) nhưng rất tiện lợi cho thí nghiệm vì chùm hạt được gia tốc có năng lượng đồng đều và dễ điều khiển.

Máy gia tốc tuần hoàn. Máy gia tốc trong đó hạt tích điện chuyển động tròn hoặc xoắn ốc đến hàng triệu vòng và được gia tốc nhiều lần. Phần lớn các máy gia tốc tuần hoàn dùng nguyên tắc cộng hưởng để gia tốc hạt (tức là sự bằng nhau giữa chu kỳ quay của hạt và chu kỳ của điện trường gia tốc). Trong máy gia tốc bêtatrôn, từ trường xoay chiều sinh ra điện trường xoáy làm gia tốc các êlectrôn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy gia tốc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 09:09 PM
 

Máy gia tốc hạt

Xiclotron là máy gia tốc hạt điện tích đầu tiên của vật lí hạt nhân(1931). Nó gồm hai hộp rỗng có dạng trụ hình nửa tròn goin là các D đặt cách nhau một khoảng rất nhỏ (khe) trong buồng đã rút hết không khí. (xem hình vẽ trong SGK Lí 12). Các D được nối với hai cực của nguồn điện sao cho giữa hai D có một hiệu điện thế với độ lớn U xác định nhưng dấu lại thay đổi một cách tuần hoàn theo thời gian với tần số f nào đó. Một nam châm điện mạnh tạo ra một từ trường đều, có véc tơ cảm ứng từ B vuông góc với mặt các D. Giữa hai khe của máy có một nguồn phát hạt khối lượng với vận tốc đầu vuông góc với khe, lúc ấy người ta điều chỉnh nguồn điện để cho bên phải mang điện tích âm, bên trái mang điện tích dương. Sau đó hạt chuyển động với vận tốc tăng dần cho đến khi đủ lớn thì nó được lái ra ngoài cho đập vào các bia để thực hiện các phản ứng hạt nhân.

Máy gia tốc hạt là một ống hình trụ cực lớn, trong đó các hạt nhỏ hơn nguyên tử được gia tăng tốc độ. Từ trường bên trong ống sẽ liên tục tắt bật cực nhanh để quay các hạt cho đến khi chúng đạt đến siêu vận tốc. Các hạt khi quay trong ống sẽ đạt vận tốc tối đa trên 288.000 km/s và như thế là gần với tốc độ của Ánh sáng. Hơn thế nữa nếu tăng tốc hai hạt từ hai hướng đối lập nhau trong ống và cho chúng va đập vào nhau, các nhà khoa học có thể xé nhỏ thành phần của chúng ra là có được thành phần cơ bản nhất của tự nhiên điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta có thể tạo ra 1 loại hạt mới, siêu cơ bản. Điều đó sẽ mở ra rất nhiều cánh cửa cho việc đi sâu, tìm hiểu về Vũ trụ cũng như chứng thực các thuyết đã được đặt ra về hạt và phản hạt, về các hạt siêu cơ bản đã tạo nên Electron, Nơtron, Proton, Positron.
Máy gia tốc hạt lớn nhất hiện nay The Large Hadron Collider (LHC). Chiếc máy này theo như giới thiệu được đặt tại phòng thí nghiệm hạt CERN (European Organization for Nuclear Research or Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire in French) ở Geneva Thụy Sĩ. LHC được đặt sâu 100m dưới lòng đất. Nó có đường kính khoảng 8km và dài 27km. Với một kích thước khổng lồ như vậy, nhiều nhà khoa học ủng hộ dự án này rất hi vọng họ có thể tạo ra được những vụ va chạm mạnh chưa từng có. Chiếc máy này có thể gia tốc hạt proton lên đến mức năng lượng 14TeV(14 ngàn tỉ electron Volt) để tìm ra những điều cần thiết cho vật lí và từ đó, khoa học có thể trả lời những câu hỏi như làm sao các hạt có thể có khối lượng? Thời gian là gì, khối lượng là gì? Vật chất đen, năng lượng đen có ý nghĩa gì đối với sự sống? Hình thức tồn tại và tính chất của chúng? Có tồn tại các chiều dư trong thiên nhiên? (chúng ta đang sống trong không - thời gian bốn chiều nhưng nhiều lý thuyết lại cho rằng còn nhiều chiều nữa được gọi là các chiều dư - extra dimension).

Máy gia tốc hạt (máy gia tốc hạt nhân, máy gia tốc hạt cơ bản) là các thiết bị sử dụng các năng lượng bên ngoài truyền cho các hạt nhằm tăng vận tốc và do đó, năng lượng của hạt chuyển động.

Lịch sử

Máy gia tốc hạt đầu tiên dạng Cyclotron đặt tại Đại học California tại Berkeley năm 1929 bởi Ernest Lawrence

Phân loại

Trong các máy gia tốc thẳng, các hạt điện tích được tăng tốc nhờ lực điện mạnh. Chẳng hạn trong máy gia tốc có chiều dài 4 km của phòng thí nghiệm Stan-fot, các electron được gia tốc đén năng lượng đạt giá trị 50 GeV.

Trong các máy gia tốc tròn, hạt điện tích chuyển động theo các quỹ đạo tròn dưới một từ trường đều có hướng vuông góc vói vận tốc hạt. Đòng thời nằm trong một hộp hình tròn gồm hai nửa hộp rỗng hình chữ D nối vào một hiệu điện thế xoay chiều.Tất cả đều nằm trong chân không.Khi đó,điện trường xoay chiều giữa hai hình D có tác dụng tăng tốc cho hat trong quá trình chuyển động : Vận tốc hạt ngày càng tăng lên cùng với bán kính quỹ đạo. Khi động năng của hạt tăng lên đén giá trị đủ lớn thì người ta cho chùm bắn vào một tấm "bia" để tạo ra cac phản ứng hạt nhân.

MeV linear Van de Graaff accelerator


Tạo ra vật chất lạ ở quy mô lớn

Có thể tìm thấy hạt lạ trong các sao neutron.

Lần đầu tiên, các nhà khoa học đã tạo ra một lượng lớn hạt vật chất khác hẳn các loại hạt thường gặp. Loại hạt này chứa hai quark lạ, hình thành từ các mảnh vỡ hạt nhân, khi chúng bị bắn phá trong máy gia tốc tại Phòng thí nghiệp Quốc gia Brookhaven (Mỹ).

50 nhà vật lý từ Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và Đức đã phối hợp thực hiện thí nghiệm trên.

Từ những năm 1960, các nhà vật lý đã tìm mọi cách săn lùng các hạt này, nhưng họ chỉ tách được một số lượng rất nhỏ, và các hạt lạ được tạo ra thường không bền vững. Do vậy, việc nghiên cứu chúng rất khó khăn.

Lần này, với sự giúp đỡ của một máy gia tốc cực lớn, những hạt nhân nguyên tử bị bắn phá khi đang chuyển động với tốc độ rất cao. Trong 100 triệu nguyên tử bị phá vỡ, có khoảng 30-40 hạt lạ xuất hiện. Đối với các nhà vật lý hạt nhân thì đây là con số lớn hơn cả mong đợi.

Cấu trúc nguyên tử

Nguyên tử gồm có nhân và các điện tử. Nhân chứa proton và neutron. Mỗi proton và neutron lại được cấu thành từ hai hạt quark: quark u (up) và quark d (down). Đến nay, giới vật lý đều cho rằng, quark là hạt nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa.

Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ trước, các nhà khoa học đã giả thuyết rằng, ngoài các loại vật chất thường chứa 2 quark trên, vũ trụ còn có những vật chất lạ, được hình thành bởi các nguyên tử chứa 3 loại hạt quark: u, d, và s (s = strange: lạ).

Lần này, với việc tạo ra các hạt lạ ở số lượng lớn, các nhà khoa học đã chứng minh được giả thuyết trên một cách chắc chắn. Họ hy vọng, có thể nghiên cứu các hạt này, để làm rõ tác động qua lại giữa các hạt trong nhân, đặc biệt là các "hạt lạ". Đồng thời, nghiên cứu sẽ góp phần giải thích vũ trụ thời mới hình thành, ví dụ sự bùng nổ của các sao neutron, bởi vì trong các sao này có thể còn rất nhiều những hạt lạ.

Có thể vô hiệu hóa bom nguyên tử bằng chùm neutrino

Thiết bị phát hiện neutrino.

Về mặt lý thuyết, một máy phát neutrino siêu mạnh có thể làm vô hiệu hoá trong nháy mắt các loại vũ khí hạt nhân ở bất kỳ đâu trên thế giới, một nhóm khoa học Nhật Bản vừa tuyên bố. Tuy nhiên, thiết bị này phải mạnh gấp hàng trăm lần bất cứ máy gia tốc hạt nào hiện nay, và có đường kính tối thiểu 1.000 km.

Nếu tạo ra được một chiếc máy như vậy, một quốc gia nào đó có thể phá huỷ kho vũ khí hạt nhân của kẻ thù chỉ bằng cách bắn một chùm neutrino xuyên qua lòng đất. Ý tưởng này là của Hiroyuki Hagura và Toshiya Sanami, thuộc Tổ chức nghiên cứu máy gia tốc năng lượng cao KEK của Nhật, và Hirotaka Sugawara tại Đại học Hawaii (Mỹ).

Neutrino là loại hạt cơ bản rất khó nắm bắt và được xem là "ma quái" nhất trong vật lý hạt. Chúng không mang điện tích, gần như không có khối lượng, được sinh ra trong các ngôi sao và rơi xuống trái đất với mật độ hàng nghìn hạt mỗi ngày. Khi tương tác với vật chất thông thường, neutrino sẽ bắn phá hạt nhân nguyên tử của vật chất đó.

Các nhà nghiên cứu cho biết, nếu dùng một chùm neutrino năng lượng cao chiếu vào các nguyên tử urani hoặc pluton, chúng sẽ làm phân tán các nơtron trong nguyên tử, phá vỡ thế ổn định của quả bom, gây ra phản ứng phân rã dây chuyền. Kết quả là quả bom bị tan chảy, bốc hơi, hoặc có thể nổ tung.

Tuy nhiên, để có thể hoạt động hiệu quả, chiếc máy gia tốc siêu mạnh này cần có đường kính hơn 1.000 km, và năng lượng 50 gigaWatt để vận hành (tương đương với điện năng tiêu tốn trên toàn nước Anh trong một giờ), với chi phí chế tạo khoảng 100 tỷ USD.

Weber cho biết giai đoạn đầu tiên của việc chế tạo có thể hoàn thành trong 10-20 năm. Tuy nhiên, vấn đề lớn đặt ra ở đây là chùm neutrino được tạo ra chỉ rộng vài mét. Nó đồng nghĩa với việc mục tiêu tấn công phải được định vị rất chính xác. Ngoài ra, chùm tia này cũng sẽ sinh ra một bức xạ alpha và nơtron gây nguy hiểm cho bất cứ sinh vật sống nào trên đường đi của nó.

Máy gia tốc sử dụng plasma


Các nhà vật lý đã tìm ra một phương pháp mới để gia tốc các hạt: Cho các hạt “cưỡi” lên một con sóng plasma. Phương pháp này rút gọn kích thước của các máy gia tốc và sẽ mở ra nhiều ứng dụng phong phú trong vật lý.

Các nhà vật lý sử dụng máy gia tốc để làm sáng tỏ nhiều vấn đề cơ bản trong cấu trúc của vũ trụ. Trong các máy gia tốc khổng lồ, các hạt được gia tốc đến gần tốc độ ánh sáng và va chạm nhau trong những điều kiện tương tự của vụ nổ bigbang. Khi nghiên cứu những mảnh vỡ sau quá trình va chạm, các nhà vật lý hy vọng hiểu được các lực tương tác và các hạt cơ bản cấu thành, từ đó có cơ sở để xây dựng một lý thuyết thống nhất.

Máy gia tốc lớn nhất hiện nay đang trong quá trình xây dựng tại CERN (Trung tâm Nghiên cứu châu Âu) nằm ở biên giới Pháp - Thụy Sỹ là máy LHC (Large Hadron Collider - máy va chạm hadron lớn) có đường kính 8,6 km. Máy LHC sẽ được hoàn thành vào năm 2007, cho phép thực hiện sự va chạm của hai dòng proton có năng lượng 7 nghìn tỷ eV. Các thí nghiệm này sẽ cho chúng ta biết về nguồn gốc khối lượng của các hạt, về vật chất - phản vật chất, về trạng thái quark - gluon plasma. Máy gia tốc này vẫn được xây dựng dựa trên nguyên lý gia tốc các hạt có từ nhiều thập kỷ nay.

Trong những năm gần đây, các nhà vật lý đã tìm ra một phương pháp mới [1] để gia tốc các hạt bằng cách sử dụng plasma (plasma là trạng thái thứ tư của vật chất, sau các trạng thái rắn, lỏng và khí). Phương pháp này có khả năng gia tốc các hạt đến năng lượng 100 tỷ eV= 105 MeV và rút gọnkích thước các máy gia tốc để dùng trong các lĩnh vực như nghiên cứu vật liệu, sinh học cấu trúc, y học hạt nhân, tổng hợp hạt nhân, chiếu xạ thực phẩm, chuyển hóa chất thải hạt nhân, điều trị ung thư.

Nguyên lý làm việc của máy gia tốc sử dụng plasma

Một khối plasma là trung tính về điện vì chứa một lượng điện tích âm (electron) bằng đúng số điện tích (ion) dương. Nếu ta cho một tia laser hoặc một chùm hạt đi qua khối plasma thì sẽ phát sinh một sự nhiễu loạn trong plasma: Thực vậy tia laser hoặc chùm hạt sẽ đẩy các electron vốn là những hạt nhẹ ra phía ngoài, còn các ion là những hạt nặng hơn sẽ nằm lại phía trong, như thế tạo ra một khoảng plasma trong đó xuất hiện những vùng ở đấy tập trung nhiều hạt mang điện tích âm và những vùng nhiều hạt mang điện tích dương và vì thế phát sinh một trường gia tốc giữa các vùng đó. Nếu tia laser hoặc chùm hạt có một hướng nhất định, ví dụ từ trái sang phải, thì các electron nằm ở phía trái có thể bị gia tốc mạnh sang phía phải bởi trường gia tốc phát sinh (xem hình 1).

Để hiểu một cách đơn giản nguyên lý làm việc của máy gia tốc sử dụng plasma, ta xét hiện tượng sau: Laser truyền trong plasma, giống như một con tàu biển rẽ nước, tạo nên những sóng trên đường đi. Những người trượt sóng (surfer), ở đây là các electron, sẽ lợi dụng những sóng đó để tăng tốc độ của mình. Như thế chúng ta đã tạo nên một sóng mạnh sau xung laser, và chúng ta đã sử dụng sóng đó để gia tốc các electron.

Một khối plasma chứa 1018 electron trên 1 cm3 có thể làm phát sinh một cường độ điện trường 100 tỷ volt/m. Cường độ này lớn hơn 1.000 lần gradient gia tốc trong các máy gia tốc hiện hành.

Cấu trúc của một máy gia tốc sử dụng plasma

Một máy gia tốc sử dụng plasma có kích thước rất nhỏ nên có thể lắp đặt trong một phòng thí nghiệm. Máy gia tốc gồm các bộ phận: Tia laser cường độ cao, tia khí helium, thiết bị chuẩn trực (collimator) để tạo một chùm electron song song, một nam châm điện tạo từ trường, bản ghi hình nhạy với electron (xem hình 2).

Tia laser cường độ cao bắn vào tia khí helium tạo nên plasma, trường gia tốc phát sinh sẽ gia tốc electron. Các electron được gia tốc này sẽ đi theo lộ trình: Thiết bị chuẩn trực, rồi qua một từ trường để hướng các electron về một bản ghi hình và cuối cùng cho ta một phổ năng lượng electron.

Nếu chúng ta sử dụng thêm một thiết bị bắn electron ngoài vào vùng xung lái (xem hình 1) thì chúng cũng sẽ được gia tốc cùng với các electron có sẵn trong plasma.

Năm 2002, Victor Malka cùng cộng sự tại Phòng thí nghiệm LOA (Laboratoire d’Optique Appliquée, một phòng thí nghiệm hợp tác giữa CNRS với Đại học Quốc gia các công nghệ hiện đại và Đại học Bách khoa của Pháp) đã tìm phương pháp thu được chùm109 electron gần đơn năng dưới dạng một xung có độ dài khoảng 10 femto-giây (10-14 giây), đây là một xung ngắn nhất mà một máy gia tốc có thể tạo nên được.

Các nhà vật lý chứng minh rằng, với nguyên lý “cưỡi” trên sóng plasma có thể gia tốc các electron đến năng lượng 4 GeV (4.109 eV) trên một quãng đường 10 cm!

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Máy gia tốc hạt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ để quan trắc các chuyển động tuần hoàn nhanh dựa trên hiệu ứng hoạt nghiệm. Thường dùng để đo tần số dòng điện xoay chiều, tần số cộng hưởng, đo số vòng quay của các máy, nghiên cứu sự rung động của các chi tiết máy.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy hoạt nghiệm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Động cơ nhiệt (đốt ngoài) được phát minh đầu tiên, trong đó hơi nước từ nồi súpde đi vào xilanh và đẩy pittông chuyển động; nhờ có hệ thống biên và tay quay chuyển động thẳng của pittông biến thành chuyển động quay của trục và vô lăng của máy. Oat (Watt 1736 – 1819 người Anh) đã chế ra chiếc máy hơi nước đầu tiên được dùng rộng rãi trong công nghiệp.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy hơi nước  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thiết bị dùng để lấy nhiệt khỏi vật cần làm lạnh, hạ nhiệt độ vùng cần làm lạnh xuống thấp hơn nhiệt độ môi trường xung quanh. Thông thường máy làm lạnh tạo ra nhiệt độ từ -10oC đến -150oC. Có nhiều kiểu máy lạnh: nén hơi, hấp thụ, phun hơi và dãn nở không khí.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy làm lạnh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tên chung để chỉ các dụng cụ, cơ cấu chế tạo dựa trên hiệu ứng li tâm là hiện tượng các vật chuyển động cong, do quán tính của chúng, luôn có xu hướng văng ra xa tâm (li tâm). Trong số các máy ly tâm thường dùng có máy tiết chế Oát, máy bơm ly tâm, máy phân ly, máy quay rảy ly tâm.

Máy tiết chết Oát là dụng cụ dùng để giữ cho số vòng quay của trục quay (một chiếc máy) không thay đổi, thường dùng trong các máy hơi nước, tua bin hơi và động cơ chạy bằng hơi nước. Máy phân ly là thiết bị quay rất nhanh dùng để tách riêng các chất khác nhau (như các chất lỏng khác nhau trong một hỗn hợp, chất rắn với chất lỏng, chất rắn với chất rắn…) dựa trên sự khác nhau đôi chút về khối lượng riêng giữa chúng, kết quả của sự quay là: chất nào có khối lượng riêng càng nhỏ thì càng ở xa trục quay hơn. Nguyên tắc trên đây cũng áp dụng để làm máy quay rảy li tâm, trong đó lực kết hợp giữa những hạt nước với vật rắn không đủ giữ cho nước chuyển động tròn và nước sẽ tách khỏi vật rắn và bắn ra ngoài.

Nhờ những máy ly tâm lớn trong đó gia tốc ly tâm vượt quá gia tốc trọng lực nhiều lần, người ta có thể tạo ra trạng thái siêu trọng lượng cần thiết cho việc luyện tập của các nhà du hành vũ trụ trong điều kiện trên Trái Đất.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy ly tâm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thiết bị dùng để tạo ra những sức nén lớn dựa trên nguyên lý Paxcan, gồm hai xilanh chứa đầy chất lỏng (dầu), đáy thông nhau, một xilanh có tiết diện lớn gấp hàng trăm lần xilanh kia. Trong hai xilanh có hai pittông chuyển động ngược chiều nhau. Khi tác dụng lên pittông nhỏ một lực f thì pittông lớn bị đẩy lên với một lực F lớn gấp hàng trăm lần f. Thường dùng để ép nước quả, ép giấy, ép gỗ…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy nén thủy lực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thiết bị dùng để giữ cho hiệu điện thế (điện áp) ở lối vào của các thiết bị thu điện năng luôn luôn có trị số không đổi, mặc dù điện áp ở mạch ngoài hoặc phụ tải của thiết bị có thể thay đổi. Để ổn định điện áp xoay chiều người ta dùng máy ổn áp sắt từ trong đó sự thay đổi điện áp được bù trừ bằng sự bão hòa từ trong các lõi sắt từ của các máy biến thế. Máy ổn áp bán dẫn hoặc điện tử gọn nhẹ hơn và có thể dùng cho điện xoay chiều hoặc một chiều.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy ổn áp  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tên chung của các máy phát điện và động cơ điện.

Máy điện một chiều. Gồm các loại: máy phát điện một chiều, động cơ điện một chiều. Máy phát điện và động cơ điện một chiều thường chỉ là một máy dùng ở hai chế độ khác nhau (do tính thuận nghịch của máy). Để tạo ra từ trường người ta có thể dùng nam châm vĩnh cửu hoặc nam châm điện. Máy điện một chiều cho phép điều chỉnh tần số quay dễ dàng và thuận lợi.

Máy điện xoay chiều. Gồm các loại máy phát điện xoay chiều, động cơ điện xoay chiều và máy biến đổi điện xoay chiều (biến đổi hiệu điện thế hoặc tần số). Người ta còn phân loại máy theo cấu tạo, đồng bộ hoặc không đồng bộ, có cổ góp hoặc không có cổ góp. Máy có thể dùng với (hoặc sản ra) dòng điện một pha hay ba pha.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thiết bị để tự động duy trì nhiệt độ ở một giá trị đã cho, hoặc tạo ra sự thay đổi nhiệt độ theo một quy luật đã cho.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy điều nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ dùng để đo tốc độ gió hoặc tốc độ một dòng khí.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: máy đo gió  

Trang:  1  2  3  4  (Tiếp theo)
Tất cả