Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang:  1  2  3  4  5  (Tiếp theo)
Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ dùng để xác định phương hướng tại một điểm trên mặt đất. Có các loại: la bàn từ, la bàn hồi chuyển, la bàn vô tuyến. La bàn đơn giản nhất là kim nam châm mà đầu Bắc trỏ cực Bắc từ. Để xác định phương của kim tuyến địa lý, cần biết thêm độ từ thiên. La bàn hồi chuyển là một con quay hồi chuyển mà trục có phương không đổi so với các sao. Trên những tàu lớn thì la bàn hồi chuyển (thường chạy bằng điện) được nối với những băng trị số ghi tròn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: la bàn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 09:36 PM
 

I. Định nghĩa và phân loại la bàn

+ La bàn là dụng cụ dùng để định hướng trên Trái Đất. La bàn sử dụng một kim nam châm có thể tự do quay theo từ trường Trái Đất, từ đó giúp xác định các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.La bàn dùng nhiều trong đi biển, vào rừng, xa mạc, hướng bay của máy bay...

+ Có hai loại la bàn : la bàn từ dùng kim nam châm và la bàn điện dùng con quay điện. Trong bài này, ta chỉ nói về la bàn từ.

II.Lịch sử la bàn từ:

Suốt một thời gian dài người ta cho rằng đó là phát minh của người trung quốc từ 4500 năm trước đây,tuy nhiên gần đây giả thiết này bị nhiều người bác bỏ. Dù thế nào đi chăng nữa những người Trung Quốc vẫn được coi là những người đầu tiên biết đến nguyên lý hoạt động của la bàn. Về sau,các thủy thủ Anh, theo học giả Alexander Neckam viết trong sách De Utensilibus (Vềcác dụng cụ) vào năm 1190, đã dùng la bàn từ trong khi đi biển. Người Arập bắt đầu dùng la bàn khoảng năm 1220 và khoảng 1250 thì người Viking đã biết dùng loại la bàn này. Thuở đó người ta dùng một thanh nam châm, đặt trên một miếng g nhỏ hay trên một cọng sậy rồi đặt vào một tô nước. Miếng g hay cộng sây giúp cho kim nam châm nổi trên nước, làm triệt tiêu các lực ma sát. Nước giúp cho kim bớt chao đảo khi tàu lắc nghiêng hay dọc. Vào khoảng thế kỷ thứ 12 la bàn đã rất phổ biến ở Châu Âu.

Người Arập học được cách dùng la bàn từ trong khi buôn bán với Trung Hoa. Sau đó la bàn từ được đem qua Tây Âu vào cuối thế kỷ thứ 12, rồi đến Bắc Âu vào thế kỷ thứ 13.. Dưới thời nhà Minh, nhà hàng hải Zhen He cùng với một thái giám triều đình nhà Minh đã đi 7 chuyến thật xa, qua tận bờ biển Phi châu. Mỗi chuyến đi, Zheng He dùng một đội từ 100 tới 200 chiếc thuyền và la bàn từ đã giữ vai trò quan trọng trong những cuộc hành trình này.

Trong thời cận đại, la bàn được gắn với hoa gió, có đường tim (lubber line đường tương ứng với trục theo chiều dài của con tàu) đặt trong bầu la bàn, mặt trên có kiếng trong và có đèn soi sáng. Bầu la bàn chứa một chất lỏng có mật độ (densité) rất gần với trọng lượng chung của hoa gió và kim nam châm để triệt tiêu sức dựa của phần này trên trục chịu. Bầu la bàn được treo trong hệ thống gimbals để lúc nào cũng giữ được mặt la bàn từ theo vị trí mặt phẳng. Ðài để đặt la bàn (pinnacle) thường được gắn rất vững chắc trên trục giữa theo chiều dài con tàu. Hai bên bầu la bàn từ có hai trái cầu tròn bằng kim loại và có thể xê dịch được. Người ta di chuyển hai trái cầu này trên giá của chúng để khử ảnh hưởng lên trên nam châm của la bàn do các kim loại trên tàu gây ra. Ngày nay người ta có thể điều chỉnh la bàn từ bằng cách so sánh các hướng đo bằng la bàn từ với hướng đo bằng la bàn điện.

Vì la bàn từ không cần đến một nguồn năng lượng bên ngoài., la bàn từ được dùng như là một khí cụ định hướng dự phòng hay để dùng trong trường hợp cấp cứu khi tàu bè mất điện. La bàn từ còn có thể được sử dụng bất cứ lúc nào, trong khi la bàn điện cần phải có một thời gian để con quay điện được khởi động và đạt đến vận tốc quay cố định. Và điểm đặc biệt nhất là la bàn từ có thể được chế tạo theo mọi cỡ lớn nhỏ, có thể cầm trong tay, hay gắn vào mặt sau của đồng hồ, vừa gọn, vừa nhẹ, và ai cũng có thể dùng được, không phải mất thời gian chỉ dẫn. Ngoài phát minh giấy bánh xe có lẽ la bàn từ là phát minh được dùng, với ít nhiều cải tiến, lâu dài nhất.

Lúc đầu người ta chỉ dùng la bàn để xác định hướng Bắc, hướng Nam và người ta thường quay cái cốc sao cho điểm cuối của cái kim chỉ phương bắc nằm đúng với vạch chỉ phương bắc trên cái cốc. Về sau nữa thì trên những cái la bàn người ta đặt một miếng giấy có đánh dấu Bắc, Nam, Đông, Tây. Từ cực bắc không trùng với bắc cực, từ cực bắc nằm ở điểm cao nhất của bờ bắc của bắc Mỹ trên bán đảo Butia. Các kim nam châm của tất cả các la bàn ở bắc bán cầu đều chỉ vào điểm này.
Những người cổ xưa không biết được sự khác nhau giữa từ cực bắc và bắc cực, họ chỉ nghĩ rằng kim của la bàn luôn luôn chỉ về hướng bắc. Về sau này những người thuỷ thủ lên tàu ra khơi xa và họ đã nhận thấy sự khác nhau này chắc hẳn bạn cũng có thể hình dung được nỗi băn khoăn thắc mắc của những người Scanđinavơ cổ khi họ chu du ở các biển bắc xung quanh Greenland và nhận thấy rằng ở một vài nơi kim la bàn lại chỉ về phía tây.

II. Cấu tạo la bàn:

Ba bộ phận của la bàn:

Kim đuợc từ hóa, theo hướng Bắc từ trường

Mặt la bàn được khắc độ và quay trên một trục, có thể điều chỉnh với bất kỳ phương vị từ trường (azimut magnétique)

Nền có vẽ mũi tên để chỉ hướng mà mình muốn tới


Bài tổng hợp : Phạm Mai Đông Nghi _ Nguyễn Thị Hồng Trân - lớp 11a3- trường Lê Hồng Phong




 
Từ khoá:
Thêm chú thích: La bàn 1  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 08:41 PM
 

La bàn là khí cụ dùng để định hướng có thể dùng trên bộ, trên nước hay cả trong không gian. Có hai loại: la bàn từ dùng kim nam châm và la bàn điện dùng con quay điện. Trong bài này, chúng tôi chỉ nói về la bàn từ.

Lịch sử la bàn từ:

Lịch sử la bàn bắt đầu từ hơn 1000 năm trước Công nguyên, lúc đó người Trung quốc khám phá ra nguyên tắc và từ từ phát triển thêm. Trần Trọng Kim chép trong Việt nam Sử Lược "... và ông Chu Công Ðán lại chế ra xe chỉ nam để đem xứ Việt thường về nước." (quyển 1, trang 13) Các sử sách Tây phương ghi lại là la bàn từ dùng kim nam châm được các nhà hàng hải Trung hoa dùng khoảng năm 1100 Tây lịch. Các thủy thủ Anh, theo học giả Alexander Neckam viết trong sách De Utensilibus (Vềcác dụng cụ) vào năm 1190, đã dùng la bàn từ trong khi đi biển. Người Arập bắt đầu dùng la bàn khoảng năm 1220 và khoảng 1250 thì người Viking đã biết dùng loại la bàn này. Thuở đó người ta dùng một thanh nam châm, đặt trên một miếng g nhỏ hay trên một cọng sậy rồi đặt vào một tô nước. Miếng g hay cộng sây giúp cho kim nam châm nổi trên nước, làm triệt tiêu các lực ma sát. Nước giúp cho kim bớt chao đảo khi tàu lắc nghiêng hay dọc.

Kim nam châm là chất sắt có từ tính thiên nhiên lấy từ trong đá mang tên là lodestone (có chỗ viết loadstone, và còn có tên là magnetite), lấy từ chữ lodestar, theo người đi biển là ngôi sao chỉ đường, trỏ sao Bắc đẩu (Polaris hay Pole star tiếng Anh và Étoile polaire, tiếng Pháp). Người ta cũng sớm biết là nếu để cho một thanh kim loại chạm vào đá nam châm thì thanh kim loại cũng có đặc tính như đá nam châm, nghĩa là có khuynh hướng chỉ về một phía tương đối cố định. Và từ tính được truyền nhận như thế có thể bị phai dần theo thời gian. Thành ra các tàu bè dùng la bàn từ thời xa xưa vẫn phải mang theo một viên đá nam châm loại tốt, để có thể nam châm hoá hay từ hóa kim la bàn khi cần. Người ta đã biết đến sự từ hóa vào khoảng thế kỷ thứ 11.

Trung quốc được xem là nước đầu tiên dùng la bàn từ trong ngành hàng hải. Trước khi phát minh ra la bàn, thủy thủ định hướng bằng vị trí mặt Trời lúc ban ngày và vị trí của sao vào ban đêm, và người ta cũng thường theo hướng gió mậu dịch (Trade winds) theo mùa. Người ta đã tìm được những bản đồ thiên văn cho vị trí các chòm sao. Trong một bản đồ thiên văn xưa của Trung quốc ta có thể thấy chòm sao Thần nông (Scorpio hay Scorpion) và chòm sao Thiên ngưu (Taurus hay Taureau). Nhưng khi trời nhiều mây hoặc mưa thì không thể định hướng được. La bàn từ đã giúp giải quyết việc định hướng trong mọi hoàn cảnh thời tiết, kể cả việc định hướng của gió mậu dịch.

Người Arập học được cách dùng la bàn từ trong khi buôn bán với Trung Hoa. Sau đó la bàn từ được đem qua Tây Âu vào cuối thế kỷ thứ 12, rồi đến Bắc Âu vào thế kỷ thứ 13.. Dưới thời nhà Minh, nhà hàng hải Zhen He cùng với một thái giám triều đình nhà Minh đã đi 7 chuyến thật xa, qua tận bờ biển Phi châu. Mỗi chuyến đi, Zheng He dùng một đội từ 100 tới 200 chiếc thuyền và la bàn từ đã giữ vai trò quan trọng trong những cuộc hành trình này.

Từ cuối thế kỷ thứ 15 cho tới đầu thế kỷ 16, những nhà hàng hải Âu châu đã đi thám hiểm nhiều nơi, vẽ những đường đi mới, khám phá ra châu Mỹ và đã thực hiện những chuyến đi vòng quanh thế giới. Nếu không có la bàn từ thì khó thể thực hiện được các chuyến viễn du này

La bàn từ qua các thời đại:

La bàn đầu tiên được gọi là "kim chỉ Nam" do người Trung Hoa phát minh rất sớm, ngay khi người ta tìm ra được từ lực và đá nam châm, trong khoảng thời kỳ chiến tranh, nhà Chu lập quốc. Kim chỉ nam ngày xưa khác la bàn ngày nay. Nó có hình dáng một cái muỗng cắt ra từ một miếng nam châm thiên nhiên và được đặt trên một cái đế bằng đồng đã được mài láng để giảm ma sát. (Lúc đó người ta đã biết đồng là kim loại không có ảnh hưởng trên từ trường, và do đó, không làm lệch hướng của kim nam châm). Phần muỗng tròn láng để chính giữa đế đồng làm trọng tâm thành ra cáng của kim chỉ nam có thể quay xung quanh. Sau khi muỗng đứng im (cân bằng tĩnh) cáng muỗng chỉ hướng Nam. Người Trung quốc xem hướng Nam là hướng của vua chúa nên dùng chữ "chỉ Nam" chớ không dùng chữ chỉ Bắc. Nếu chiếc muỗng được dùng trên bộ, và thường thì được dùng trong ngành địa lý, phong thủy, chọn hướng xây nhà cửa, mồ mả ...

Những người đi biển ban đầu dùng "Cá chỉ Nam," dùng sắt cắt hình con cá, rồi được từ hóa. Khi được thả vô nước, "Cá chỉ Nam" sẽ lơ lửng trong nước và nằm theo trục Bắc Nam. Và người ta vẫn phải từ hóa "Cá" khi nào từ tính của nó yếu đi như đã nói ở trên. Lần lần người ta thay "Cá" bằng một cây kim bằng sắt đã được chà sát trên một nam châm thiên nhiên. Khi kim đã được độ từ hóa cần thiết, kim sẽ chỉ hướng Nam khi nằm trên một miếng gỗ nhỏ hay một cọng sậy, bềnh bồng trong nước. Đó là la bàn đầu tiên. Sau đó kim từ hóa được gắn vào một cái chén đã có ghi phương hướng, thường là bốn phương chính Ðông, Tây, Nam, Bắc và bốn phương bàng: Ðông Nam, Ðông Bắc, Tây Nam và Tây Bắc. Về sau, còn thêm tám hướng phụ nữa như Bắc Ðông Bắc, Tây Tây Nam vân vân. Người ta cũng dần dần biết đến sự lệch của từ trường, độ từ thiên, độ từ lệch và các sự biến thiên này thay đổi theo vị trí của từng nơi, từng khu vực. (góc lệch từ, declination, từ thiên variation magnétique hay magnetic variation).

La bàn từ với hoa gió, thấy rõ bốn phương chính và bốn phương bàng

La bàn từ dùng trên phi cơ

Lúc đầu mặt la bàn (còn gọi là Hoa gió , Compass Rose) được chia thành 32 khoảng, sau đó khắc theo vòng tròn thành 360 độ. Trên bộ, quân đội các nước dùng la bàn từ chính xác hơn, chia thành 6400 khắc. Ngành hàng không cũng dùng la bàn từ. Cho đến bây giờ, phần lớn các phi cơ trực thăng và một số phi cơ nhỏ vẫn còn được trang bị la bàn từ để làm khí cụ định hướng.

Khi sử dụng trong ngành hàng hải, la bàn từ được dùng để chỉ hướng đi. Ðược trang bị thêm dụng cụ đo hướng người ta dùng la bàn từ để đo hướng đối chiếu từ hai hay ba đối vật được xác định theo bản đồ hải hành (đỉnh hay mõm núi, đèn phao, hải đăng, các kiến trúc đặc biệt ... để xác định vị trí con tàu, từ đó tính được khoảng cách đã đi, vận tốc, hướng phải đi ... và có thể nghiệm thêm, qua các cách tính, có hay không có giòng nước ngầm, sức gió ...

Trong thời cận đại, la bàn được gắn với hoa gió, có đường tim (lubber line đường tương ứng với trục theo chiều dài của con tàu) đặt trong bầu la bàn, mặt trên có kiếng trong và có đèn soi sáng. Bầu la bàn chứa một chất lỏng có mật độ (densité) rất gần với trọng lượng chung của hoa gió và kim nam châm để triệt tiêu sức dựa của phần này trên trục chịu. Bầu la bàn được treo trong hệ thống gimbals để lúc nào cũng giữ được mặt la bàn từ theo vị trí mặt phẳng. Ðài để đặt la bàn (pinnacle) thường được gắn rất vững chắc trên trục giữa theo chiều dài con tàu. Hai bên bầu la bàn từ có hai trái cầu tròn bằng kim loại và có thể xê dịch được. Người ta di chuyển hai trái cầu này trên giá của chúng để khử ảnh hưởng lên trên nam châm của la bàn do các kim loại trên tàu gây ra. Ngày nay người ta có thể điều chỉnh la bàn từ bằng cách so sánh các hướng đo bằng la bàn từ với hướng đo bằng la bàn điện.

Vì la bàn từ không cần đến một nguồn năng lượng bên ngoài., la bàn từ được dùng như là một khí cụ định hướng dự phòng hay để dùng trong trường hợp cấp cứu khi tàu bè mất điện. La bàn từ còn có thể được sử dụng bất cứ lúc nào, trong khi la bàn điện cần phải có một thời gian để con quay điện được khởi động và đạt đến vận tốc quay cố định. Và điểm đặc biệt nhất là la bàn từ có thể được chế tạo theo mọi cỡ lớn nhỏ, có thể cầm trong tay, hay gắn vào mặt sau của đồng hồ, vừa gọn, vừa nhẹ, và ai cũng có thể dùng được, không phải mất thời gian chỉ dẫn. Ngoài phát minh giấy bánh xe có lẽ la bàn từ là phát minh được dùng, với ít nhiều cải tiến, lâu dài nhất.

Ba bộ phận của la bàn:

Kim đuợc từ hóa, theo hướng Bắc từ trường

Mặt la bàn được khắc độ và quay trên một trục, có thể điều chỉnh với bất kỳ phương vị từ trường (azimut magnétique)

Nền có vẽ mũi tên để chỉ hướng mà mình muốn tới

Tại sao không gọi la bàn là kim chỉ bắc?

La bàn. Ảnh: Stanleylondon.

Nếu đặt ở bất cứ đâu, chiếc kim la bàn cũng quay về hướng bắc. Thế nhưng người Việt lại gọi nó là kim chỉ nam.

Khi nói về một vấn đề quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài, chúng ta thường dùng từ kim chỉ nam, chẳng hạn: "Lời nguyện ước thiết tha của người cha lúc nào cũng như kim chỉ nam để anh vượt qua mọi gian khổ". Lối nói hình tượng này được xây dựng từ một vật dụng khá quen thuộc trong đời sống, đó là la bàn.

La bàn là một dụng cụ gồm kim nam châm có hai cực bắc - nam quay tự do quanh một trục. Do ảnh hưởng của từ trường trái đất mà dù đặt ở bất cứ đâu song song với trái đất, chiếc kim từ tính kia cũng quay về hướng bắc, từ hướng bắc sẽ tìm ra hướng nam, sau đó là đông và tây. La bàn thường có hai kim trái chiều và để phân biệt, người ta thường sơn bằng hai màu khác nhau.

Với chức năng như vậy, la bàn là dụng cụ định hướng không thể thiếu cho những người đi rừng, đi biển hay đi vào vùng xa lạ hoang vắng dễ lạc đường. Người châu Âu trước kia hay dùng la bàn một kim, chỉ hướng Bắc (có lẽ do các thủy thủ, ngư dân thường có hành trình về Bắc Cực). Nhưng tại sao người Việt Nam lại gọi nó là kim chỉ nam mà không phải kim chỉ bắc?

La bàn được người Trung Quốc phát minh từ thế kỷ 1. Theo giáo sư Nguyễn Thạch Giang, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã tận dụng triệt để tính năng này của la bàn. Các đoàn quân từ thời nhà Tần cho đến sau này vẫn có thói quen bành trướng lãnh thổ bằng các cuộc hành trình bình định về phương Nam. Mỗi đạo quân đều có một la bàn thô sơ với chiếc kim chỉ nam sơn đỏ chói. Vậy là các tướng sĩ nhất tề phi ngựa nhằm hướng nam thẳng tiến. Bất luận thế nào, cuộc chinh phục cũng chỉ nhìn về một phía đó thôi. Đây có lẽ là cơ sở chính làm nên ngữ nghĩa hàm ẩn cho cụm từ "kim chỉ nam" trong tiếng Việt.

Nhóm Quế Cường+Hòang Vũ - 11A5-trường Lê Hồng Phong

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: la bàn 2  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tật mắt, mà biểu hiện là nhìn một vật thấy hai ảnh, tức là hai cảm giác do hai mắt thu được không hòa với nhau làm một. Vì thế sửa bằng phẫu thuật hoặc bằng lăng kính mặt trụ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lác mắt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Máy phát ánh sáng kết hợp. Thuật ngữ lade (LASER) là viết tắt từ các từ tiếng Anh “Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation”, nghĩa là “khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ cưỡng bức”. Chùm tia lade là chùm ánh sáng kết hợp, rất đơn sắc, rất song song, có thể có công suất rất lớn (với lade rubi công suất có thể đạt tới 106 W/cm2, trên một diện tích nhỏ và trong một thời gian rất ngắn). Máy phát tia lade dựa vào hiện tượng bức xạ cưỡng bức (hay cảm ứng) do Anhxtanh tiên đoán năm 1917. Muốn chế tạo được lade cần phải tạo một môi trường hoạt tính (hoạt chất) không hấp thụ ánh sáng, mà trái lại, lại khuếch đại ánh sáng đi qua nó; đồng thời phải làm cho bức xạ cảm ứng được truyền đi, truyền lại nhiều lần trong môi trường hoạt tính đó. Tùy thuộc vào hoạt chất, có nhiều loại lade. Ngày nay đã chế tạo được hàng chục loại lade rắn khác nhau, có loại cho công suất lớn, như lade thủy tinh pha nêođim (công suất 20 tỷ oát mỗi xung); ngoài lade rắn còn có lade khí (He – Ne, CO2, Ar, N…), lade bán dẫn (GaAs), lade chất màu hữu cơ…

Lade có rất nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: thông tin liên lạc, nghiên cứu khoa học (làm nguồn sáng); y học (để phẫu thuật); công nghiệp (gia công vật liệu); toàn ký (thu ảnh ba chiều)…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lade  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hiện tượng phát quang, mà sau khi ngừng kích thích vật còn phát sáng một thời gian đáng kể (t > 10-6 giây). Quan sát được ở các chất rắn (phần nhiều là sunfua) như kẽm sunfua, sunfua của kim loại kiềm phổ… Chất lân quang được dùng để làm màn phát sáng (màn hình) của máy thu hình, làm đèn “huỳnh quang” (đúng ra phải gọi là đèn lân quang)…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lân quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Khối chất trong suốt (thủy tinh, thạch anh, nước…) hình lăng trụ có tiết diện thẳng là một tam giác. Hai mặt của lăng kính để sử dụng được mài phẳng nhẵn và gọi là hai mặt bên (ABB’A’ và ACC’A’). Mặt còn lại BCC’B’ gọi là mặt đáy của lăng kính. AA’ là cạnh của lăng kính. Khi sử dụng lăng kính các tia sáng được chiếu đến trong mặt phẳng tiết diện thẳng của lăng kính. Một tia sáng SI đập vào mắt AB của lăng kính sau hai lần khúc xạ sẽ cho tia ló JR lệch về phía đáy một góc D so với tia tới gọi là góc lệch.

Giá trị góc lệch D phụ thuộc vào chiết suất n của chất làm lăng kính. Vì chiết suất này tăng khi bước sóng l giảm, nên nếu chùm sáng tới là ánh sáng trắng thì khi đi qua lăng kính nó bị phân tích thành các tia đơn sắc (hiện tượng tán sắc); tia có bước sóng l ngắn bị lệch nhiều hơn (tia đỏ lệch ít nhất, tia tím lệch nhiều nhất). Hai công dụng chủ yếu của lăng kính là: đổi phương truyền của ánh sáng và tán sắc (H. 74).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lăng kính  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lăng kính đóng vai trò của gương phẳng nhờ hiện tượng phản xạ toàn phần. Tia sáng SI gặp mặt AB của lăng kính dưới góc lớn hơn góc giới hạn nên không khúc xạ ra ngoài mà phản xạ toàn phần lại xảy ra, nên hai mặt AB và AC đóng vai trò hai gương (H. 75). Lăng kính này dùng thay gương vì gương có mặt mạ bạc chóng hỏng. Lăng kính này còn có tác dụng lật hình: ảnh M’N’ ngược chiều vật MN.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lăng kính phản xạ toàn phần, lăng kính lật hình  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Những sai hỏng trong sự sắp xếp tuần tự và đều đặn của cấu trúc mạng tinh thể xảy ra không phải ở từng điểm riêng biệt mà ảnh hưởng đến cả một mặt hoặc khối tinh thể. Lệch mạng không chỉ ảnh hưởng đến độ bền vững mà cả đến các tính chất điện, từ và quang của tinh thể.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lệch mạng (trong tinh thể)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hai dao động điều hòa có pha khác nhau một góc j (không bằng 2kp radian, k là số nguyên) gọi là lệch pha, j gọi là góc lệch pha (hay độ lệch pha). Trường hợp riêng: j = (2k + 1)p gọi là ngược pha; j = 2kp (k = 1, 2…) gọi là cùng pha (đồng pha).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lệch pha  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự liên kết các nguyên tử thành phân tử. Có nhiều loại liên kết hóa học. Liên kết ion là liên kết do tương tác tĩnh điện giữa hai ion khác dấu, ví dụ giữa Na+ và CL- tạo thành phân tử NaCl. Liên kết cộng hóa trị (hay liên kết đồng cực) là liên kết giữa hai nguyên tử trung hòa, mỗi nguyên tử góp một êlectrôn để tạo thành cặp êlectrôn chung. Ví dụ liên kết giữa hai nguyên tử trung hòa H tạo thành phân tử H2.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: liên kết hóa học  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đơn vị dung tích bằng 1 dm3, ký hiệu l.

            Ước: mililit (ml) = 10-3 l = 1cm3
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lít  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bộ phận chính của nhà máy điện nguyên tử, của động cơ tàu thủy, tàu ngầm nguyên tử… Trong lò này phản ứng phân hạch dây chuyền của urani hay plutoni xảy ra dưới dạng điều khiển được, và tỏa ra nhiệt. Nhiệt này được dùng để sinh hơi chạy tua bin phát điện. Lò phản ứng được điều khiển bằng các thanh điều khiển, là các thanh kim loại chứa các chất hấp thụ nơtrôn (bo, cadimi). Có nhiều loại lò phản ứng: lò dùng nơtrôn chậm, lò dùng nơtrôn nhanh; lò tái sinh là loại lò trong đó nhiên liệu hạt nhân, như urani 235, trong quá trình hoạt động của lò, lại biến thành nhiên liệu hạt nhân khác, như urani 233 hoặc plutoni 239, với số lượng nhiều hơn nhiên liệu tiêu thụ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lò phản ứng hạt nhân  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Phần tử tải điện dương trong chất bán dẫn, không thực có, mà là giả định. Khái niệm “lỗ trống” tạo nhiều thuận lợi cho việc xây dựng lý luận về chất bán dẫn. Nếu trong mạng tinh thể của chất bán dẫn một liên kết bị phá vỡ, êlectrôn được giải phóng trở thành êlectrôn tự do thì chỗ thiếu êlectrôn gọi là lỗ trống, là tương đương với một hạt mang một điện tích nguyên tố dương. Khi êlectrôn chuyển động để đi lấp một lỗ trống thì tựa như lỗ trống đã chuyển động theo chiều ngược lại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lỗ trống  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ biến đổi dòng điện xoay chiều đã biến điệu theo âm thanh thành âm thanh cùng tần số và âm sắc; là bộ phận cuối cùng của thiết bị truyền âm đi xa, khuếch đại…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: loa phóng thanh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bệnh về thị giác, mà triệu chứng là người bệnh lẫn lộn nhiều màu, chẳng hạn, màu đỏ và màu lục (do mắt thiếu tế bào nhạy màu đỏ).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: loạn sắc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ chỉ để các bức xạ trong một khoảng bước sóng hữu hạn (kể cả bức xạ hồng ngoại hoặc tử ngoại) đi qua, các bức xạ khác đều bị hấp thụ. Đơn giản nhất là các tấm thủy tinh màu, kính nhựa màu… Kính có màu nào thì chỉ cho ánh sáng có màu ấy đi qua.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lọc sắc, kính lọc màu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

(Lomonosov Mikhail Vaxilevic, 1711 - 1765), nhà bác học Nga, đã góp phần xây dựng thuyết động học phân tử, định luật bảo toàn khối lượng trong các phản ứng hóa học, nghiên cứu về điện khí quyển…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Lômônôxốp  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lồng bằng lưới kim loại bảo vệ được các vật đặt ở trong lồng chống tác dụng của điện trường ngoài, vì điện trường ở trong lòng một vật dẫn (đặc hoặc rỗng) bằng không.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lồng Farađây  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lớp chất nhạy với tác dụng của ánh sáng, phủ trên một nền thủy tinh, giấy…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lớp nhạy sáng, nhũ tương ảnh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

(Lorentz Hendric Antoan, 1853 - 1928), nhà vật lý Hà Lan, đã xây dựng thuyết êlectrôn về cấu tạo chất, tìm ra công thức biến đổi tọa độ và thời gian khi chuyển từ hệ tọa độ đứng yên sang hệ tọa độ chuyển động (phép biến đổi Lorenxơ).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Lorenxơ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đại lượng vectơ, biểu thị tương tác giữa các vật. Lực được biểu diễn bằng một vectơ có gốc là điểm đặt của lực, có hướng chỉ hướng tác dụng của lực và có độ dài (theo một tỉ xích quy ước) chỉ độ lớn (cường độ) của lực. Nếu một vật có khối lượng m, do tương tác với các vật khác mà thu được gia tốc  thì ta nói rằng tương tác ấy biểu thị bằng một lực  tác dụng lên vật, mà theo định luật 2 của Niutơn, ta có .

Trong hệ SI, đơn vị lực là niutơn, ký hiệu N.

1 niutơn = 1 kg.1 m/s2

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một vật đối xứng tròn xoay chuyển động với vận tốc v nhỏ trong một chất lưu (chất khí hoặc chất lỏng) thì chịu một lực cản . Hệ số h tỉ lệ với kích thước của vật và độ nhớt h của chất lưu. Ví dụ đối với hình cầu bán kính R thì h = 6prh (định luật Stốc).

            Ở vận tốc lớn hơn thì lực cản gần như tỷ lệ với v2, với tiết diện cản S (tiết diện vuông góc với phương chuyển động và có diện tích lớn nhất, (H. 76) và với khối lượng riêng r của chất lưu: ; k là một hệ số phụ thuộc vào dạng của vật (H. 77). Dạng có k nhỏ nhất gọi là dạng khí động lực học.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực cản của chất lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực tương tác giữa các nuclôn (prôtô và nơtrôn), có các đặc trưng: cường độ rất lớn, bán kính tác dụng rất nhỏ (khoảng 10-13 m); không phụ thuộc vào điện tích. Chính vì có lực này mà các prôtôn, tuy đẩy nhau vì mang điện dương, vẫn liên kết với nhau trong hạt nhân.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực hạt nhân  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực gây ra chuyển động tròn của một vật và hướng về tâm của đường tròn quỹ đạo. Trong trường hợp một chất điểm, lực này có cường độ bằng mv2/R, trong đó m là khối lượng, v là vận tốc dài của chất điểm, R là bán kính đường tròn.

Trong trường hợp tổng quát của chuyển động cong thì tại mỗi điểm M có thể vẽ vòng tròn mật tiếp trùng với đường cong ở M, có tâm O trên pháp tuyến và bán kính OM = R. Lực tác dụng lên vật có thể phân tích thành hai thành phần, thành phần tiếp tuyến và thành phần pháp tuyến. Thành phần pháp tuyến chính là lực hướng tâm mv2/R.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực hướng tâm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ để đo cường độ của lực. Có nhiều loại, phổ biến nhất là lực kế lò xo.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực kế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực không có bản chất tĩnh điện nhưng tác dụng lên hạt mang điện. Lực lạ không phải là lực thế, công của nó dọc theo mạch kín khác không. Trong các nguồn điện khác nhau lực lạ có bản chất khác nhau. Trong pin acquy, lực lạ là lực hóa học; trong các máy phát điện, lực lạ là lực từ trường tác dụng lên các êlectrôn chuyển động trong dây dẫn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực lạ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực tác dụng lên hạt mang điện tích chuyển động trong điện từ trường, có biểu thức , với q là điện tích của hạt,  là cường độ điện trường,  là vectơ cảm ứng từ của từ trường,  là vận tốc của hạt. Ký hiệu Ù trỏ tích vectơ của  . Tích này là một vectơ vuông góc với   có giá trị vBsina (a là góc giữa  ) có chiều được xác định theo quy tắc: Đặt bàn tay trái duỗi thẳng, để cho các đường cảm ứng xuyên vuông góc vào lòng bàn tay; chiều từ cổ tay đến ngón tay trùng với chiều vectơ vận tốc của hạt, khi đó, ngón tay cái choãi vuông góc với các ngón kia chỉ chiều của lực Lorenxơ, nếu hạt mang điện dương, và chỉ chiều ngược lại nếu hạt mang điện âm (H. 78). Thành phần qE là lực Culông. Có khi thuật ngữ lực Lorenxơ chỉ dùng để trỏ thành phần q(Ù).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực Lorenxơ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ ba, 21 Tháng mười 2008, 09:15 PM
 

Lực tác dụng lên hạt mang điện tích chuyển động trong điện từ trường, có biểu thức «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mrow»«mover»«mi»F«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«mo»=«/mo»«mi»q«/mi»«mfenced»«mrow»«mover»«mi»E«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«mo»+«/mo»«mover»«mi»v«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«csymbol»«mo»§#923;«/mo»«/csymbol»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/mrow»«/mfenced»«/mrow»«/math», với q là điện tích của hạt, «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»E«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» là cường độ điện trường, «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math»là vectơ cảm ứng từ của từ trường, «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»v«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» là vận tốc của hạt. Ký hiệu «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«csymbol»«mo»§#923;«/mo»«/csymbol»«/math» tích vectơ của «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»v«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math». Tích này là một vectơ vuông góc với «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»v«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» có giá trị vBsin«math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«csymbol»«mo»§#945;«/mo»«/csymbol»«/math» («math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«csymbol»«mo»§#945;«/mo»«/csymbol»«/math» là góc giữa «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»v«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math») có chiều được xác định theo quy tắc: Đặt bàn tay trái duỗi thẳng, để cho các đường cảm ứng xuyên vuông góc vào lòng bàn tay; chiều từ cổ tay đến ngón tay trùng với chiều vectơ vận tốc của hạt, khi đó, ngón tay cái choãi vuông góc với các ngón kia chỉ chiều của lực Lorenxơ, nếu hạt mang điện dương, và chỉ chiều ngược lại nếu hạt mang điện âm. Thành phần qE là lực Culông. Có khi thuật ngữ lực Lorenxơ chỉ dùng để  chỉ thành phần q( «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»v«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math» «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«csymbol»«mo»§#923;«/mo»«/csymbol»«/math» «math xmlns="http://www.w3.org/1998/Math/MathML"»«mover»«mi»B«/mi»«mo»§#8594;«/mo»«/mover»«/math»).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực Lorenzt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Phản lực của lực hướng tâm, có chiều từ tâm đường tròn ra ngoài. Lực hướng tâm đặt vào vật chuyển động tròn, còn lực ly tâm đặt vào liên kết của vật, ví dụ đặt vào đầu sợi dây giữ cho vật quay tròn. Không nên lẫn với lực quán tính ly tâm là lực đặt vào vật.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực ly tâm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực cản trở chuyển động tương đối của hai vật tiếp xúc nhau và có phương nằm trong mặt phẳng tiếp xúc. Có nhiều loại lực ma sát.

Lực ma sát trượt là lực xuất hiện ở mặt tiếp xúc giữa hai vật đang trượt trên nhau, luôn ngược chiều chuyển động và có giá trị F = kN, với N là lực ép vật lên mặt tiếp xúc và vuông góc với mặt này (trong hình 79, N là thành phần của trọng lượng  vuông góc với mặt phẳng nghiêng), k là hệ số ma sát trượt phụ thuộc vào bản chất và tình trạng trơn hay nháp của các mặt tiếp xúc.

Lực ma sát nghỉ, là lực xuất hiện khi hai vật tiếp xúc trực tiếp đứng yên tương đối với nhau, nhưng có xu hướng trượt trên nhau dưới tác dụng của ngoại lực. Lực ma sát nghỉ thực sự ngăn cản chuyển động. Ví dụ: nếu mặt phẳng nghiêng ít thì lực ma sát nghỉ giữ vật đứng yên trên mặt phẳng nghiêng. Lực ma sát nghỉ tự động điều chỉnh hướng và cường độ của nó để khử lực muốn gây chuyển động (trong hình 79, lực muốn gây chuyển động là thành phần T của trọng lượng, song song với mặt phẳng). Nhưng cường độ cực đại của lực ma sát nghỉ bằng lực ma sát trượt:

f £ kN

Lực ma sát lăn là lực xuất hiện khi một vật lăn trên mặt một vật khác và cản lại chuyển động của vật. Lực ma sát lăn cũng tỉ lệ với lực ép N, nhưng hệ số ma sát lăn nhỏ hơn hệ số ma sát trượt hàng chục lần.

Lực cản của chất lưu rất phức tạp, có một phần do ma sát giữa bề mặt của vật rắn và chất khí hoặc chất lỏng, nhưng còn do chênh lệch áp suất giữa mặt trước và mặt sau của vật chuyển động chất lưu.

 

 

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực ma sát  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Các định luật Niutơn chỉ đúng trong các hệ quy chiếu quán tính Q. Nếu muốn áp dụng trong các hệ quy chiếu không quán tính K thì, ngoài các lực thực (thể hiện tương tác giữa các vật), cần phải đặt thêm vào các vật một đại lượng có thứ nguyên lực, gọi là lực quán tính. Nếu hệ quy chiếu K chuyển động tịnh tiến với gia tốc a so với hệ quy chiếu quán tính Q, thì phải đặt thêm vào chất điểm có khối lượng m lực quán tính F = -ma. (ngược hướng với ). Nếu hệ K quay đều với vận tốc w so với hệ Q thì phải đặt thêm vào chất điểm lực quán tính ly tâm F = m w 2 r, r là khoảng cách từ chất điểm tới trục quay.

Lực quán tính không có phản lực (định luật 3 Niutơn không đúng trong hệ quy chiếu không quán tính).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực quán tính  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực mà công của nó chỉ phụ thuộc vào các vị trí đầu và cuối của đường đi chứ không phụ thuộc vào hình dạng đường đi. Công của lực thế dọc theo một đường kín thì bằng không. Lức thế gắn với thế năng U có độ biến thiên DU bằng và ngược dấu với công tương ứng của lực. Lực hấp dẫn, lực Culông là những lực thế. Ví dụ: khi vật có trọng lực P rơi từ một độ cao h xuống đất thì công của trọng lực là Ph và độ biến thiên thế năng là DU = -Ph.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực thế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực có phương đi qua một điểm cố định, gọi là tâm của lực. Trọng lực (lực hấp dẫn) là một thí dụ về lực xuyên tâm. Dưới tác dụng của lực xuyên tâm, chất điểm (hoặc trọng tâm của vật) dịch chuyển theo một đường cong thẳng, bán kính nối chất điểm với tâm lực vạch ra những diện tích bằng nhau trong những khoảng thời gian bằng nhau (X. Định luật Kêple).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực xuyên tâm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lực xuất hiện khi các vật tiếp xúc với nhau và bị biến dạng. Nếu biến dạng. Nếu biến dạng vì kéo hoặc nén và x là độ biến dạng thì trong giới hạn đàn hồi, lực đàn hồi sinh ra tỉ lệ với x và ngược chiều:  (định luật Húc). Hệ số tỉ lệ k gọi là độ cứng (hoặc hệ số đàn hồi) của vật.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lực đàn hồi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Điện cực đặt giữa anốt và catốt, thường có dạng lưới. Đèn điện tử có thể có một hoặc nhiều lưới với những chức năng khác nhau.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lưới (của đèn điện tử).  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tập hợp hai môi trường trong suốt có chiết suất khác nhau n1, n2 ngăn cách nhau bởi một mặt phẳng (H. 80).

Vật S1 nằm trong môi trường có chiết suất n1, cách mặt phẳng khoảng d1, có ảnh S2 ở khoảng cách: . Vật và ảnh có bản chất khác nhau (vật thật cho ảnh ảo, vật ảo cho ảnh thật).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lưỡng chất phẳng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hệ gồm hai điện tích bằng nhau nhưng trái dấu +q và –q đặt cách nhau một khoảng nhỏ l. Vectơ  hướng từ điện tích âm đến điện tích dương gọi là mômen lưỡng cực. Khi chịu tác dụng của điện trường đều , lưỡng cực sẽ quay sao cho hai vectơ   song song với nhau. Khi chịu tác dụng của điện trường không đều, lưỡng cực còn chịu một lực hướng về phía điện trường mạnh.

Lưỡng cực điện là mô hình về điện của nhiều hệ thống vi mô cũng như vĩ mô. Một số phân tử có thể xem là lưỡng cực điện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lưỡng cực điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ để tạo ra sự giao thoa ánh sáng, gồm hai lăng kính có góc ở đỉnh (góc chiết quang) nhỏ và có chung đáy. Chùm sáng từ nguồn S, là một khe hẹp, qua lưỡng lăng kính thì tựa như phát đi từ hai nguồn ảo S1 và S2. Hai nguồn này là kết hợp nên phần chung nhau của hai chùm sáng là trường giao thoa (H. 81), tạo nên hình ảnh giao thoa.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lưỡng lăng kính Frexnen  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tính chất hai mặt tựa như đối lập nhau của đối tượng vi mô, vừa là sóng, vừa là hạt. Lưỡng tính này được phát hiện đầu tiên với ánh sáng: Ánh sáng vừa là sóng điện từ, vừa là hạt phôtôn. Sau đó Đơ Brơi (de Broglie, nhà vật lý Pháp, 1892 - 1987) mở rộng cho các đối tượng lâu nay vẫn coi là hạt, như êlectrôn, prôtôn,… Một hạt có năng lượng E và động lượng p gắn với một sóng gọi là bước sóng Đơ Brơi l = h/p và tần số f = E/h trong đó h là hằng số Plăng. Cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí hoàn toàn về bản chất của sóng Đơ Brơi.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lưỡng tính sóng hạt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Theo thuyết lượng tử, các nguyên tử hoặc phân tử chỉ phát ra hoặc hấp thụ năng lượng E từng lượng gián đoạn, gọi là lượng tử năng lượng, E là bội số nguyên của một đại lượng gọi là hằng số Plăng h (còn gọi là lượng tử tác dụng):

            E = fh, f là tần số của bức xạ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lượng tử  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Trong Cơ học lượng tử nhiều đại lượng vật lý chỉ có những giá trị rời rạc nhất định, người ta nói rằng chúng bị lượng tử hóa. Những giá trị đó thường có dạng M = nMo hoặc n2Mo trong đó n là một số nguyên hoặc bán nguyên gọi là lượng tử số. Ví dụ: Bán kính quỹ đạo của êlectrôn trong thuyết Bo là , ro được gọi là bán kính Bo, n = 1, 2, 3… Năng lượng của nguyên tử hiđro là .

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lượng tử hóa  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hiện tượng mắt vẫn giữ lại cảm giác về ánh sáng khoảng 4 – 5 phần trăm giây sau khi ánh sáng đã tắt (ngừng tác dụng lên võng mạc). Hiện tượng này là cơ sở kỹ thuật chiếu bóng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lưu ảnh trên võng mạc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Lượng chất lỏng hay khí chảy qua một tiết diện ngang của ống trong một đơn vị thời gian. Lưu lượng có thể đo bằng kg/s, nếu tính theo khối lượng, hoặc m3/s, nếu tính theo thể tích chất lỏng. Nếu tính theo thể tích thì lưu lượng đo bằng Q = vS, v là vận tốc chất lưu tại tiết diện đang xét và S là diện tích của tiết diện ấy. Nếu chất lỏng không chịu nén chảy theo một ống, thì Q là không đổi ở mọi tiết diện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: lưu lượng  

Trang:  1  2  3  4  5  (Tiếp theo)
Tất cả