Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang: (Trước)   1  2
  Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đơn vị khối lượng trong hệ SI và bảng đơn vị hợp pháp, là khối lượng của chuẩn gốc quốc tế (hình trụ bằng bạch kim pha iriđi, giữ ở gần Pari, Pháp). Xấp xỉ bằng khối lượng của 1 dm3 nước nguyên chất ở nhiệt độ 40C. Ký hiệu kg.

            Ước: gam (g) = 10-3 kg

            Bội: tạ = 102 kg, tấn = 103 kg

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Kilogram  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 10:08 PM
 

Khái niệm và tính chất

*kim nam châm nào cũng có 2 từ cực .Khi để tự do cực luôn chỉ huớng bắc địa lí gọi là cực bắc , còn cực luôn chỉ huơng nam gọi là cực nam . Dựa vào tính chất này, kim nam châm được ứng dụng làm la bàn.
Tên gọi:

Từ Kim chỉ Nam lxuất phát từ chữ "Nam châm" trong tiếng Hán ( Nam châm quá quen thuộc đúng không bạn?). Do đó có thể nói xuất phát cụm từ Kim chỉ Nam là từ người Trung Hoa
Về nguồn gốc cụm từ liên quan đến việc phát minh ra la bàn, lịch sử la bàn bắt đầu từ hơn 1000 năm trước Công nguyên. La bàn đầu tiên được gọi là "kim chỉ Nam" do người Trung Hoa phát minh ngay khi người ta tìm ra được từ lực và đá nam châm. Kim chỉ nam ngày xưa khác la bàn ngày nay chủ yếu là hình dáng, nó có hình dáng một cái muỗng cắt ra từ một miếng nam châm và được đặt trên một cái đế bằng đồng đã được mài láng để giảm ma sát. Lúc đó người ta đã biết đồng là kim loại không có ảnh hưởng đến từ trường do đó, không làm lệch hướng của kim nam châm. Phần muỗng tròn láng để chính giữa đế đồng làm trọng tâm thành ra cán của kim chỉ nam có thể quay xung quanh. Sau khi muỗng đứng im (cân bằng tĩnh) cán muỗng chỉ hướng Nam. Người Trung quốc xem hướng Nam là hướng của vua chúa nên dùng chữ "chỉ Nam" chớ không dùng chữ chỉ Bắc (!?).

Ngoài ra, cũng có quan niệm cho rằng, người ta không gọi là kim chỉ bắc mà lại gọi kim chỉ nam là vì kim này được phát minh từ rất xưa, được quân của Vũ Vương sử dụng để chỉ đường xuống phương Nam đánh nhà Ân Thương. Vì họ đánh xuống phương Nam nên họ cho "cái đầu kia" quan trọng hơn "cái đầu này" (!?).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Kim nam châm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Quang cụ dùng để quan sát các chi tiết rất nhỏ của các vật, gồm có: 1 – vật kính hội tụ V, có tiêu cự vài mm, cho ảnh thực  A1B1 của vật nhỏ AB ; 2- thị kính hội tụ T, có tiêu cự cỡ cm, đóng vai trò kính lúp cho ảnh cuối cùng A’B’ (H. 70). Người ta thường điều chỉnh để ảnh A’B’ ở vô cực.

Năng suất phân li của kính hiển vi cực tốt vào khoảng một nửa bước sóng ánh sáng, nên dùng kính này không thể phân biệt được hai điểm cách nhau dưới 0,2m.

Để quan sát những chi tiết nhỏ hơn nữa, người ta đã chế tạo kính hiển vi điện tử, dùng chùm electron thay cho chùm sáng với các thấu kính điện hoặc từ thay cho thấu kính thủy tinh.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Kính hiển vi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thấu kính hội tụ có tiêu cự f nhỏ dùng để nhìn các vật với số (độ) bội giác G nhỏ tối đa là 10. Nếu Đ là khoảng cách từ mắt đến ảnh ảo nhìn qua kính lúp thì . Thường quy ước lấy Đ = 25cm

Kính quang phổ, máy quang phổ. Quang cụ dùng để quan sát, chụp ảnh quang phổ của các chất. Gồm ba bộ phận:

1. Ống chuẩn trực C, để tạo chùm tia sáng song songduong

2. Lăng kính L hoặc cách tử, nhiễu xạ để phân tích chùm sáng thành nhiều chùm đơn sắc.

3. Ống ngắm (hoặc buồng ảnh) để hội tụ các chùm đơn sắc vào các điển khác nhau trên tiêu diện P của kính ống ngắm T (hoặc buồng ảnh), tạo nên các vạch quang phổ a, b …

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Kính lúp  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Quang cụ dùng để quan sát các thiên thể. Gồm có:

            1. Vật kính hội tụ V, có tiêu cự f1 vài mét, cho ảnh thực A1B1 của vật (thiên thể) ở vô cực.

            2. Thị kính hội tụ T, có tiêu cự f2 vài cm đóng vai trò kính lúp, cho ảnh cuối cùng ảo A’B’ (H. 72). Nếu ngắm chừng ở vô cực thì số (độ) bội giác G = f1/f2.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: kính thiên văn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Quang cụ dùng để nhìn vượt lên một chướng ngại vật, chẳng hạn ở dưới chiến hào vẫn quan sát được mặt đặt. Loại đơn giản nhất gồm hai gương phẳng đặt nghiêng 45o
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: kính tiềm vọng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Nửa đường tròn tưởng tượng đi từ cực Bắc địa lý đến cực Nam địa lý của Trái đất  dùng để (cùng với vĩ tuyến) xác định vị trí của một điểm trên mặt đất. Kinh tuyến đi qua đài thiên văn Grinuýt (Anh) được chọn là kinh tuyến gốc và có kinh độ 00. Phía đông kinh tuyến có các kinh tuyến có kinh độ đông từ 10 đến 1800. Phía tây là các kinh tuyến có kinh độ tây từ 10 đến 1800.

            Kinh độ của Hà nội : 1060 Đông, của TP.HCM : 1070

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Kinh tuyến  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Quang cụ để nhìn các vật ở xa, cấu tạo khác với kính thiên văn là thị kính là thấu kính phân kỳ nên ảnh cuối cùng cùng chiều với vật. Đây là kính viễn vọng đầu tiên trong lịch sử do nhà bác học Italia Galilê (1564 - 1642) chế tạo. Ống nhòm xem hát là một loại kính viễn vọng Galilê. Hiện nay có nhiều loại kính viễn vọng khác hoàn thiện hơn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: kính viễn vọng Galilê  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thấu kính mỏng để sửa tật của mắt. Mắt cận thị phải đeo kính phân kỳ, mắt viễn thị phải đeo kính hội tụ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Kính đeo mắt  

Trang: (Trước)   1  2
  Tất cả