Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang: (Trước)   1  2  3  4  5  6  (Tiếp theo)
  Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

I. henry, nhà vật lý học Mỹ (1797 – 1878) phát hiện sự tự cảm.

II. Đơn vị độ tự cảm (hay hệ số tự cảm), độ hỗ cảm (hay hệ số hỗ cảm), bằng độ tự cảm của một mạch kín khi dòng điện 1 ampe chạy qua thì sinh ra trong chân không từ thông 1 vêbe qua mạch ấy. Ký hiệu H. Ước: milihenry 1 mH = 10-3H

Đặt tên theo nhà vật lý Mỹ Henry

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Henry  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

1. Sự xuất hiện dòng điện trong một mạch kín gồm 2 kim loại khác nhau, khi nhiệt độ hai mối hàn khác nhau. Hiện tượng này do Zibec (Seebeck, nhà vật lý Đức, 1770 – 1931) phát hiện ra, nên còn gọi là hiệu ứng Zibec. Mạch điện nói trên gọi là cặp nhiệt điện, và được sử dụng là nguồn nhiệt điện hoặc để đo nhiệt độ.

            2. Hiệu ứng Penchie (Peltier) cũng được coi là hiện tượng điện. X. Hiệu ứng Penchie.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiện tượng nhiệt điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Số đặc trưng cho lợi ích sử dụng một máy, bằng tỷ số giữa năng lượng có ích mà máy sản ra, và năng lượng mà máy nhận được. Hiệu suất H luôn luôn bé hơn 1. trong thực tế hiệu suất của các động cơ nhiệt thường thấp hơn 50%. Các động cơ điện có hiệu suất cao nhất (tới 85%)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiệu suất  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

(Comptom, nhà vật lý Mỹ, 1892 – 1962). Hiện tượng ánh sáng thay đổi bước sóng khi tán xạ lên electron tự do (hoặc liên kết yếu). Nếu ll’ là các bước sóng trước và sau tán xạ, q là góc tán xạ (góc giữa tia tới và tia tán xạ) thì độ tăng bước sóng được xác định bằng công thức Cômtơn.

 trong đó h là hằng số Plăng), m la khối lượng electron c là vận tốc ánh sáng.  gọi là bước sóng Cômtơn của electron. Hiệu ứng Cômtơn chỉ có thể giải thích được nếu coi ánh sáng là các hạt photôn, khi va chạm vào electron thì truyền cho electron một phần năng lượng và động lượng

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiệu ứng Cômtơn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 04:29 PM
 

Hiệu ứng Hall (đọc như "hiệu ứng hôn") là một hiệu ứng vật lý được thực hiện khi áp dụng một từ trường vuông góc lên một bản làm bằng kim loại hay chất bán dẫn hay chất dẫn điện nói chung (thanh Hall) đang có dòng điện chạy qua. Lúc đó người ta nhận được hiệu điện thế (hiệu thế Hall) sinh ra tại hai mặt đối diện của thanh Hall. Tỷ số giữa hiệu thế Hall và dòng điện chạy qua thanh Hall gọi là điện trở Hall, đặc trưng cho vật liệu làm nên thanh Hall. Hiệu ứng này được khám phá bởi Edwin Herbert Hall vào năm 1879.

Cơ chế

Hiệu ứng Hall được giải thích dựa vào bản chất của dòng điện chạy trong vật dẫn điện. Dòng điện này chính là sự chuyển động của các điện tích (ví dụ như electron trong kim loại). Khi chạy qua từ trường, các điện tích chịu lực Lorentz bị đẩy về một trong hai phía của thanh Hall, tùy theo điện tích chuyển động đó âm hay dương. Sự tập trung các điện tích về một phía tạo nên sự tích điện trái dầu ở 2 mặt của thanh Hall, gây ra hiệu điện thế Hall.

Công thức liên hệ giữa hiệu thế Hall, dòng điện và từ trường là:

VH = (IB)/(den)

với VH là hiệu thế Hall, Icường độ dòng điện, Bcường độ từ trường, d là độ dày của thanh Hall, e là điện tích của hạt mang điện chuyển động trong thanh Hall, và n mật độ các hạt này trong thanh Hall.

Công thức này cho thấy một tính chất quan trong trong hiệu ứng Hall là nó cho phép phân biệt điện tích âm hay dương chạy trong thanh Hall, dựa vào hiệu thế Hall âm hay dương. Hiệu ứng này lần đầu tiên chứng minh rằng, trong kim loại, electron chứ không phải là proton được chuyển động tự do để mang dòng điện. Điểm thú vị nữa là, hiệu ứng cũng cho thấy trong một số chất (đặc biệt là bán dẫn), dòng điện được mang đi bởi các lỗ trống điện tử (có điện tích tổng cộng là dương) chứ không phải là electron đơn thuần.

Khi từ trường lớn và nhiệt độ hạ thấp, có thể quan sát thấy hiệu ứng Hall lượng tử, thể hiện sự lượng tử hóa điện trở của vật dẫn.

Với các vật liệu sắt từ, điện trở Hall bị tăng lên một cách dị thường, được biết đến là hiệu ứng Hall dị thường, tỷ lệ với độ từ hóa của vật liệu. Cơ chế vật lý của hiệu ứng này hiện vẫn còn gây tranh cãi

Ứng dụng

Hiệu ứng Hall được sử dụng chủ yếu trong các thiết bị đo, đầu dò. Các thiết bị này thường phát ra tín hiệu rất yếu và cần được khuếch đại. Đầu thế kỷ 20, các máy khuếch đại dùng bóng chân không quá tốn kém, nên các đầu đo kiểu này chỉ được phát triển từ khi có công nghệ vi mạch bán dẫn. Ngày nay, nhiều "đầu dò hiệu ứng Hall" chứa sẵn các máy khuếch đại bên trong.

1. Đo cường độ dòng điện

Hiệu ứng Hall nhạy cảm với từ trường, mà từ trường được sinh ra từ một dòng điện bất kỳ, do đó có thể đo cường độ dòng chạy qua một dây điện khi đưa dây này gần thiết bị đo. Thiết bị có 3 đầu ra: một dây nối đất, một dây nguồn để tạo dòng chạy trong thanh Hall, một dây ra cho biết hiệu thế Hall. Phương pháp đo dòng điện này không cần sự tiếp xúc cơ học trực tiếp với mạch điện, hầu như không gây thêm điện trở phụ của máy đo trong mạch điện, và không bị ảnh hưởng bởi nguồn điện (có thể là cao thế) của mạch điện, tăng tính an toàn cho phép đo. Có vài cách để đưa dây điện mang dòng vào gần thiết bị đo như sau:

+ Cuốn dòng cần đo

Dòng điện cần đo có thể được cuốn quanh thiết bị đo. Các độ nhạy ứng với các cường độ dòng điện khác nhau có thể được thay đổi bằng số vòng cuốn quanh thiết bị đo. Phương pháp này thích hợp cho các ampe kế lắp vĩnh cửu vào cùng mạch điện.

+Kẹp vào dòng cần đo

Thiết bị được kẹp vào dây dẫn điện. Phương pháp này dùng trong kiểm tra đo đạc, không lắp vĩnh cửu cùng mạch điện.

2. Tính nhân

Về cơ bản ứng dụng này dựa vào công thức của hiệu ứng Hall: hiệu thế Hall là tích của cường độ dòng điện (tỷ lệ với hiệu điện thế áp dụng lên thanh Hall, nhờ định luật Ohm) với cường độ từ trường (có thể được sinh ra từ một cuộn cảm, tỷ lệ với hiệu điện thế áp dụng lên cuộn cảm).

+ Đo công suất điện

Công suất tiêu thụ của một mạch điện là tích của cường độ dòng điệnhiệu điện thế trên mạch. Vậy có thể đo công suất này bằng cách đo dòng điện (như mô tả ở trên) đồng thời với việc dùng hiệu điện thế của mạch điện để nuôi dòng qua thanh Hall. Phương pháp như vậy có thể được cải tiến để đo công suất dòng điện xoay chiều trong sinh hoạt dân dụng. Nó thường chính xác hơn các thiết bị truyền thông và ít gây cản trở dòng điện

+ Xác định vị trí và chuyển động

Hiệu ứng Hall có thể dùng để xác định vị trí cơ học. Các thiết bị kiểu này không có một chi tiết cơ học chuyển động nào và có thể được chế tạo kín, chịu được bụi, chất bẩn, độ ẩm, bùn lầy... Điều này giúp các thiết bị này có thể đo đạc vị trí tiện hơn dụng cụ quang học hay cơ điện.

+ Khởi động ô-tô

Khi quay ổ khóa khởi động ô-tô, một nam châm gắn cùng ổ khóa quay theo, gây nên thay đổi từ trường, được cảm nhận bởi thiết bị dùng hiệu ứng Hall. Phương pháp này tiện lợi vì nó không gây hao mòn như phương pháp cơ học khác.

+ Dò chuyển động quay

Việc dò chuyển động quay tương tự như trên rất có ích trong chế tạo hệ thống hãm phanh chống trượt nhạy bén hơn của ô-tô, giúp người điều khiển xe dễ dàng hơn.

Nhóm Quế Cường + Hòang Vũ lớp 11A5- trường Lê Hồng Phong

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: hiệu ứng Hall  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Nếu chất khí lí tưởng giãn đoạn nhiệt vào chân không thì nhiệt độ của nó không đổi. Nhưng với khí thực thì tuy nội năng không đổi, sự giãn nở làm biến đổi thế năng tương tác giữa các phân tử, do đó động năng biến đổi nghĩa là nhiệt độ của khí thay đổi, đó là hiệu ứng Jun – Tômxơn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiệu ứng Jun – Tômxơn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

hiện tượng ánh sáng chiếu vào kim loại làm bật ra các electrôn gọi là quang electrôn. Stôlêtôp (Stoletov, nhà vật lí Nga, 1839 – 1896) đã nêu các định luật của hiệu ứng này:

1 -  Hiện tượng quang điện chỉ xảy ra khi bước sóng ánh sáng rọi vào bé hơn một giới hạn  gọi là giới hạn (ngưỡng) quang điện, hay giới hạn đỏ, ứng với mỗi kim loại.

2- Với ánh sáng thích hợp  thì dòng quang điện bão hòa tỉ lệ thuận với cường độ ánh sáng.

3 – Vận tốc ban đầu các quang electrôn không phụ thuộc vào cường độ ánh sáng mà phụ thuộc vào tần số của ánh sáng rọi vào và bản chất kim loại.

Các định luật này chỉ giải thích được nếu ánh sáng là dòng các hạt phôtôn có năng lượng hf, f là tần số ánh sáng, h là hằng số Plăng. Nếu hf lớn hơn công A cần thiết để bứt electrôn ra khỏi kim loại (gọi là công thoát electrôn của kim loại ấy) thì hiện tượng quang điện mới có thể xẩy ra. Phần năng lượng thừa hf – A biến thành động năng mv2/2 của quang electrôn. Vậy (Công thức Anhxtanh).

Bước sóng giới hạn

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiệu ứng quang điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

(Doppler, nhà vật lý Áo, 1803 – 1853). Sự thay đổi tần số biểu kiến của sóng phát đi từ một nguồn do chuyển động tương đối của nguồn và máy thu. Khi nguồn và máy thu chuyển động lại gần nhau thì máy thu ghi được tần số cao hơn, chuyển động ra xa nhau thì máy thu ghi được tần số thấp hơn.

Biến thiên tương đối của tần số f là:

hình

Trong đó v là vận tốc tương đối của máy thu M so với nguồn N (H.63), là góc giữa v và MN, c là vận tốc đang truyền của các sóng đang xét. Nếu là sóng âm chẳng hạn thì trường hợp a trong hình 63, tai M nghe được âm do nguồn N phát ra với tần số thấp hơn; trường hợp b, tai nghe được âm cao hơn.

Hiệu ứng Đôple tương đối tính. Công thức trên đây được áp dụng cho các sóng khi v < < c (vận tốc ánh sáng). Với v lớn, ta phải dùng công thức Đôple của thuyết tương đối, phức tạp hơn. Một đặc điểm của công thức này là cho ngay cả khi

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiệu ứng Đốple(Doppler)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Hiệu điện thế  giữa hai điểm A và B của một trường tỉnh điện là đại lượng đặc trưng cho sự khác nhau về điện giữa hai điểm ấy, và đo bằng công của lực điện làm dịch chuyển một đơn vị điện tích dương từ A đến B, gọi tắt là thế hiệu. Trong kỹ thuật điện, thường dùng từ điện áp thay cho hiệu điện thế. Đơn vị đo hiệu điện thế là vôn (V).
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiệu điện thế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hiệu điện thế giữa  hai dây pha của mạch điện ba pha

 
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Hiệu điện thế dây  

Trang: (Trước)   1  2  3  4  5  6  (Tiếp theo)
  Tất cả