Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang:  1  2  3  4  5  6  7  8  9  (Tiếp theo)
Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 11:04 PM
 

+ Cá hồi là tên gọi cho một số loài cá da trơn sống ở các nước ôn đới và hàn đới thuộc họ Salmonidae. Cá hồi sống ở Đại Tây DươngThái Bình Dương và Hồ Great Lakes, Bán đảo Kamchatka, và ở Viễn Đông Nga. Ở Việt Nam, cá hồi đã được nuôi thành công ở Sa Pa.

+ Cá hồi sống trong môi trường "nước động" Cá hồi sinh ra ở môi trường nước ngọt, nhưng cá con chỉ sống một thời gian ngắn ở môi trường này rồi tự bơi ra biển. Phần lớn quãng đời của cá hồi là sống trong môi trường nước mặn. Cá hồi di cư vì hai lý do: nguồn thức ăn và địa điểm sinh sản. Nguồn thức ăn của cá hồi là ở biển, trong khi đó cá lại sinh sản ở vùng nước ngọt.

+ Loài cá hồi khi di chuyển định hướng bằng mùi. Mỗi chú cá nhớ một mùi của dòng sông nơi nó sinh ra. Khi di chuyển qua đại dương trở về con sông sinh sản, con cá sẽ tìm thấy đường của nó một cách hoàn toàn bản năng vì mùi vị thân quen càng gần càng trở nên rõ rệt.

+ Sự di cư ngược dòng sông về các bãi đẻ chỉ xảy ra một lần trong đời của hầu hết cá hồi (Salmon). Khi đến tuổi sinh sản, cá hồi di cư hàng dặm để các bãi đẻ trứng. Khi về đến cửa sông, chúng tụ lại trong vùng nước lợ (nước hơi mặn) và đợi con nước lớn đưa chúng ngược lên dòng sông.

+ Hành trình ngược dòng sông có thể mất vài tháng. Những chú cá thường phải băng mình qua những thác nước và vách dốc để đến những con suối cạn đẻ trứng. Vì cá hồi không ăn ở vùng nước ngọt, nên chúng bị mất 40% khối lượng cơ thể vào thời gian đẻ trứng và thụ tinh cho trứng. Hầu hết chúng đều chết sau đó.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cá hồi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ để phân tích ánh sáng trắng thành phổ. Cách tử cùng với lăng kính được dùng trong các máy quang phổ. Cách tử có thể chế tạo bằng cách dùng mũi kim cương nhọn rạch lên một tấm thủy tinh những vạch song song cách đều; những vạch này ngăn ánh sáng đi qua, những dải còn lại là những khe cho ánh sáng đi qua (H. 16), khoảng cách a giữa hai khe, gọi là bước của cách tử phải rất nhỏ, cỡ mirômét.

Hình 16


Một chùm sóng đập vuông góc vào cách tử sẽ bị nhiễu xạ. Theo phương làm thành một góc q với pháp tuyến, ta có cực đại của cường độ sáng nếu hiệu quang trình của hai tia phát từ hai khe liên tiếp bằng một số nguyên lần bước sóng l: d = asin q = kl; k gọi là bậc của quang phổ. q phụ thuộc l nên các bức xạ có l khác nhau sẽ có cực đại ở các phương q khác nhau, do đó chùm sáng tới bị phân tích thành quang phổ (H. 17). Ở đây, trái với lăng kính, màu đỏ bị lệch nhiều hơn màu tím.

Hình 17

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cách tử  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Đơn vị nhiệt lượng, bằng 4,18 jun. Bằng nhiệt lượng phải cung cấp cho 1 gam nước để tăng nhiệt độ của nó lên 1oC. Đơn vị này ở ngoài hệ SI. Nay ít dùng, chỉ dùng trong Dinh dưỡng học.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: calo  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Phần tử có tác dụng biến đại lượng cần đo (áp suất, nhiệt độ, độ dịch chuyển…) thành một đại lượng khác (hiệu điện thế chẳng hạn) thuận tiện hơn cho việc truyền đi, đo lường, ghi nhận…
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm biến  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Điện trở mà một cuộn dây gây ra riêng cho dòng xoay chiều, ngoài điện trở thuần mà nó gây ra cho cả dòng một chiều lẫn xoay chiều. Nếu L là độ tự cảm của cuộn dây (đo bằng henry trong hệ SI), wtần số góc của dòng xoay chiều (đơn vị 1/s thì cảm kháng XL cũng đo bằng ôm như điện trở thuần: XL = wL
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm kháng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

C.n. Nhiễm điện do hưởng ứng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng tĩnh điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đại lượng vectơ  đặc trưng cho từ trường. Nếu M là một điểm trong từ trường do dòng điện XY sinh ra thì vectơ cảm ứng từ được xác định bằng cách đặt ở điểm ấy một khung dây nhỏ có dòng điện I chạy qua. Sau một lúc dao động khung đứng yên (H. 18).

Hình 18

1. Hướng của  là hướng của vectơ pháp tuyến dương của khung (chiều dương là chiều tiến của cái vặn nút chai hoặc (đinh ốc thuận) xoay theo chiều dòng điện I).

Nếu đặt ở M một kim nam châm nhỏ thì hướng của  cũng là hướng đi từ cực nam S đến cực bắc N của kim nam châm.

2. Độ lớn của cảm ứng từ là , Mmax là mômen lực cực đại tác dụng lên khung dây có diện tích S và dòng điện I chạy qua.

Đơn vị của cảm ứng từ trong bảng đơn vị pháp là tesla ký hiệu T (Tesla là tên một kỹ sư Nam Tư, 1884 - 1943).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

 Xem Chất sắt từ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng từ dư  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự xuất hiện suất điện động (gọi là suất điện động cảm ứng) trong một dây dẫn chuyển động trong từ trường không đổi, hoặc một mạch đứng yên trong từ trường biến thiên. Trường hợp thứ nhất có thể giải thích bằng lực Lorenxơ; trong trường hợp sau, từ trường biến thiên làm xuất hiện điện trường xoáy, là nguồn gốc của suất điện động cảm ứng. Trong cả hai trường hợp suất điện động cảm ứng E đo bằng vôn. Dấu trừ thể hiện quy tắc Lenxơ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng điện từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự xuất hiện suất điện động (gọi là suất điện động cảm ứng) trong một giây dẫn chuyển động trong từ trường không đổi, hoặc một mạch đứng yên trong từ trường biến thiên. Trường hợp thứ nhất có thể giải thích bằng lực Lorenxơ; trong trường hợp sau, từ trường biến thiên làm xuất hiện điện trường xoáy, là nguồn gốc của suất điện động cảm ứng. Trong cả hai trường hợp suất điện động cảm ứng E đo bằng vôn. Dấu trừ thể hiện quy tắc Lenxơ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng điện từ.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ dùng để đo khối lượng của các vật. Có nhiều loại cân: Cân Rôbecvancân tiểu ly có hai cánh tay đòn bằng nhau; cân đòn, cân bàn, cân tự động có hai cánh tay đòn khác nhau. Hình 20 vẽ sơ đồ của cân tự động: đối trọng m có cánh tay đòn OH biến đổi nên có thể cân bằng được các khối lượng M khác nhau, kim K trỏ giá trị của M.

Cân lò xo thực ra là lực kế, đo trọng lượng của vật chứ không đo được khối lượng. Nhưng vì trọng lượng tỷ lệ với khối lượng, hệ số tỉ lệ biến đổi ít nên có thể chia độ cân lò xo theo khối lượng để dùng trong sinh hoạt.

Hình 20

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Trạng thái của một hệ cơ học trong đó tất cả các điểm của hệ đứng yên đối với một hệ quy chiếu xác định. Nếu hệ quy chiếu là quán tính thì cân bằng gọi là cân bằng tuyệt đối.

Điều kiện cân bằng đủ để một vật rắn đạt cân bằng tuyệt đối là:

1. Tổng vectơ ngoại lực đặt vào vật bằng không hoặc,

Nếu chiếu các lực xuống ba trục tọa độ:

                               (1)

2. Tổng mômen các lực ấy đối với ba trục bằng không:

           (2)

Nếu vật rắn có trục quay cố định rất vững chãi thì các điều kiện (1) nghiễm nhiên được thỏa mãn. Lấy trục x trùng với trục quay, ta chỉ còn một điều kiện:

Dĩ nhiên ban đầu vật phải đứng yên, nếu không thì nó sẽ quay đều mãi mãi (quán tính quay).

Việc nghiên cứu cân bằng của hệ quy chiếu không quán tính giống như nghiên cứu cân bằng tuyệt đối với điều kiện xét thêm các lực quán tính.

Cân bằng của vật gọi là cân bằng bền nếu khi đưa vật ra khỏi vị trí cân bằng thì nó tự trở về vị trí cân bằng (H. 21a). Nếu một độ lệch rất nhỏ cũng làm nó tiếp tục ra xa vị trí cân bằng thì cân bằng này gọi là không bền (H. 21b). Nếu ở các vị trí lân cận vật vẫn có cân bằng thì ta có cân bằng phiếm định (H. 21c). Nói chung vật có cân bằng bền, hoặc không bền, hoặc phiếm định tùy theo thế năng của nó là cực tiểu hay cực đại, hay không đổi. Trường hợp đơn giản vẽ trong hình 21, các cân bằng này ứng với vị trí của khối tâm: a. thấp nhất, b. cao nhất, c. không đổi.

Hình 21

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân bằng cơ học  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Trạng thái cân bằng nhiệt của hệ là trạng thái trong đó mọi phần của hệ có cùng một nhiệt độ không đổi theo thời gian. Một số thông số trạng thái khác cũng có cùng một giá trị ở mọi phần và không đổi theo thời gian (giả thiết không có tác dụng từ ngoại hệ). Ví dụ áp suất, mật độ của chất khí ở trạng thái cân bằng nhiệt. Trong lòng hệ các quá trình vi mô xảy ra nhưng không dẫn đến các biến đổi vĩ mô.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân bằng nhiệt, cân bằng nhiệt động  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một tật của mắt. Mắt cận thị có tiêu điểm F ở đằng trước võng mạc V, do độ tụ của thủy tinh thể quá lớn. Mắt cận thị không nhìn rõ các vật ở xa. Muốn sửa tật cận thị, phải đeo kính phân kỳ K (H. 22).

Hình 22

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cận thị  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Phương pháp đo khối lượng riêng của các chất rắn và lỏng, dựa vào lực đẩy Acsimet để tính thể tích
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân thủy tĩnh (phương pháp)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

1. Điểm gần nhất mà mắt có thể nhìn rõ được, khi điều tiết nhiều nhất. So với mắt bình thường, mắt cận thị có cận điểm ở gần mắt hơn, mắt viễn thị có cận điểm ở xa mắt hơn.

2. Điểm gần tiêu điểm nhất. Vệ tinh của một thiên thể chuyển động trên một elip mà một tiêu điểm là thiên thể ấy. Một đầu của trục lớn của quỹ đạo có khoảng cách tới tiêu điểm ấy nhỏ nhất và gọi là cận điểm của quỹ đạo.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cận điểm, điểm cực cận  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Cánh tay đòn d của một lực clip_image002.gif đối với một trục X là khoảng cách xác định như sau (H. 19).

Hình 19        
1. Nếu F nằm trong mặt phẳng P vuông góc với X ở điểm O thì cánh tay đòn của  là khoảng cách từ O đến giá của , OH = d. Nếu r = OA là bán kính vectơ của góc A của  
q là góc giữa r và  thì d = rsinq.


2. Nếu  là một lực không nằm trong một mặt phẳng vuông góc với X thì cánh tay đòn của nó cũng bằng cánh tay đòn của lực  thu được khi chiếu  xuống mặt phẳng P vuông góc với X.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cánh tay đòn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đơn vị cường độ sáng của bản đơn vị hợp pháp, ký hiệu Cd. Là cường độ sáng đo theo phương vuông góc với nó của một diện tích bằng 1/60 cm2, bức xạ như một vật bức xạ toàn phần ở nhiệt độ đông đặc của platin, dưới áp suất 101325 niutơn trên mét vuông (áp suất tiêu chuẩn).

canđela giây. Đơn vị lượng sáng của Bảng đơn vị hợp pháp, là lượng sáng của một nguồn có cường độ sáng 1 canđela, phát ra trong thời gian 1 giây. Ký hiệu: Cds.

canđela trên mét vuông (nit). Đơn vị độ chói trong bảng đơn vị hợp pháp, là độ chói của một nguồn phẳng 1 m2 có cường độ sáng 1 canđela, đo theo phương vuông góc với nguồn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: canđela  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Có điện thế cao. Cuộn cao áp trong máy thu hình có điện thế hàng chục kilôvôn. Đường dây cao thế để tải điện có điện thế 30 kV, 110 kV…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cao áp, cao thế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Tần số cao, nằm trong dải từ 20 kilôhec đến 300 mêgahec.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cao tần  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Máy đo độ cao mà nguyên tắc hoạt động là: áp suất không khí giảm theo độ cao.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cao độ kế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Xem. Hiện tượng nhiệt điện
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cặp nhiệt điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 


1. Điện cực trong nguồn điện một chiều (pin, acquy…) có điện thế thấp hơn điện cực kia.


2. Điện cực của dụng cụ nối với âm cực của nguồn điện.


3. Điện cực phát ra êlectrôn trong đèn điện tử hay đèn chứa khí.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: catôt, âm cực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bộ phận bảo vệ mạng điện; là một đoạn dây bằng chì hay một hợp kim dễ chảy, tiết diện được chọn sao cho nếu dòng điện vượt quá giới hạn an toàn thì nhiệt tỏa ra làm chảy đứt cầu chì, và dòng điện bị ngắt.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cầu chì.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một kiểu mạch điện gồm những điện trở sắp xếp như trong hình 23, dùng để xác định điện trở Rx theo ba điện trở đã biết. Khi không có dòng điện chạy qua điện kế G thì ta có:

Hình 23

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cầu Uytxtơn (Wheastone)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Nhà vật lý học Anh (1731 - 1810). Nghiên cứu Tĩnh điện, nêu các khái niệm điện thế, điện dung… Năm 1798 dùng cân xoắn đo được hằng số hấp dẫn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Cavenđixơ (Cavendish)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Một kiểu tụ điện cổ, là một chai thủy tinh có hai lá kim loại dán ở mặt ngoài và mặt trong
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chai Lâyđen (Leyden)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hiện tượng một chất lỏng đã có nhiệt độ thấp hơn điểm đông đặc mà vẫn ở trạng thái lỏng. Trạng thái chậm động là nửa bền: thêm vào chất lỏng chậm đông một ít chất rắn cùng loại hoặc khuấy, nó sẽ bắt đầu đông đặc.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chậm đông  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Trạng thái của chất khí trong bình có áp suất rất nhỏ so với áp suất khí quyển, khoảng dưới 1mm Hg

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chân không  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Cuộn dây có độ tự cảm L. cảm kháng của nó đối với dòng điện có tần số f là XL (ôm) = 2 p f. L (L tính bằng henry). Chấn lưu trong mạch của đèn ống giúp cho sự phóng điện trong ống và hạn chế dòng điện ở mức an toàn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chấn lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự bảo vệ một vật (dụng cụ đo, vật cần nghiên cứu…) khỏi ảnh hưởng của trường tỉnh điện ngoài, bằng cách đặt vật trong một vỏ hay lưới kim loại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chắn điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có điện trở suất trung gian giữa kim loại và điện môi, và giảm khi nhiệt độ tăng (ngược với kim loại) Các chất bán dẫn thường gặp là các nguyên tố silic, giecmani, asen, telu … và nhiều hợp chất như các oait kin loại, sunfua, telerua … Dòng điện trong chất bán dẫn là dòng chuyển dời có hướng đồng thời của các electron tự do (mang điện âm) và các lỗ trống (mang điện dương)

Trong chất bán dẫn tinh khiết thì mật độ electron bằng mật độ lỗ trống và có giá trị nhỏ. Nếu trong chất bán dẫn có lẫn một lượng rất nhỏ nguyên tố khác thì đó là chất bán dẫn có tạp chất. Nếu tạp chất làm cho số electron tự do tăng lên nhiều, mật độ electron lớn hơn nhiều so với mật đội lỗ trống thì ta có chất bán dẫn n (từ chữ nagative nghĩa là âm, vì hạt tải điện cơ bản là electron mang điện âm). Ví dụ: silic pha một ít asen. Nếu tạp chất làm cho lỗ trống tăng lên nhiều thì ta có chất bán dẫn loại p (từ chữ positive, nghĩa là dương, “hạt” tải điện cơ bản là lỗ trống mang điện dương)

Các chất bán dẫn có rất nhiều ứng dụng: điốt bán dẫn, tranzito, nhiệt điện trở, quang điện trở …

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất bán dẫn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ dẫn nhiệt kém, như không khí, các vật liệu xốp. Chân không cách nhiệt tốt.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất cách nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Vật liệu không chống lại sự biến dạng. Thường là các polime tự nhiên hoặc nhân tạo, có tính cách điện và cách nhiệt tốt.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất dẻo  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có cấu tạo tinh thể.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất kết tinh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất ở trạng thái khí, là trạng thái trong đó có các phân tử có mật độ rất thấp, chuyển động hầu như tự do, trừ khi va chạm vào nhau. Chất khí không có thể tích hay hình dạng xác định mà chiếm toàn bộ không gian dành cho nó.

            Chất khí lý tưởng: Một mô hình đơn giản của chất khí trong đó có các phân tử khí được coi là các chất điểm và không tương tác với nhau, trừ lúc va chạm. Chất khí ký tưởng tuân theo chính xác phương trình gọi là phương trình trạng thái khí ổ mọi nhiệt độ. Ở áp suất thấp và nhiệt độ tương đối cao thì các khí thực gần với khí lý tưởng.

            Chất khí thực: Khi nghiên cứu chất khí thực cần phải coi các phân tử như những quả cầu có đường kính hiệu dụng d. Hai phân tử hút nhau nếu khoảng cách lớn hơn một giá trị r0, đẩy nhau nếu r < r0 , nhưng r không thể nhỏ hơn d. Chất khí thực tuân theo gần đúng phương trình Van de van. Ở áp suất thấp và nhiệt độ tương đối cao, chất khí thực tuân theo các định luật Bôi – Mariốt, Gay – Luytxac và Saclơ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất khí  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất oxi hóa mạnh, khử được ion hydro bám vào điện cực của pin, tránh cho pin khỏi bị phân cực. Ví dụ trong pin Lơclăngsê, mangan điôxýt (MnO2) là chất khử cực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất khử cực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất ở trạng thái trung gian giữa các trạng thái rắn và khí, gio61ngh chất rắn ở chỗ có thể tích nhất định và khó nén, nhưng lại giống chất khí ở chỗ không có hình dạng nhất định và khó nén, nhưng lại giống chất khí ở chỗ không có hình dạng nhất định và dễ chảy. Khoảng cách giữa các phân tử của chất lỏng vào cỡ kích thước của chính phân tử nên lực tương tác giữa các phân tử khá lớn. Vì vậy chất lỏng có cấu trúc “trật tự gần” (các phân tử sắp xếp có trật tự trong từng thể tích nhỏ) và có sức căng mặt ngoài.

Chất lỏng lý tưởng. Chất lỏng không có tính nhớt và chịu được mọi lực nén mà không giảm thể tích.

Chất lỏng thực bao giờ cũng có tính nhớt và khi chịu nén đủ lớn thì thể tích giảm đi một chút.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất lỏng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tên gọi chung của chất lỏng và chất khí

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ từ thẩm m nhỏ hơn đơn vị một chút. Ví dụ m (nước) = 0,99991. Các phân tử của chất nghịch từ không có momen từ riêng. Khi đặt trong từ trường ngoài, do hiện tượng cảm ứng điện từ, xuất hiện một từ trường yếu ngược chiều từ trường ngoài. Vì vậy chất nghịch từ không bị nam châm hút mà lại bị đẩy.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nghịch từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất dùng làm phim ảnh, giấy ảnh. Thường là muối bạc halogenua, khi chịu tác dụng của ánh sáng thì bạc kim loại kết tủa thành những chỗ đem trên phim.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nhạy sáng, chất cảm quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Để giải thích các hiện tượng nhiệt, một số nhà vật lý thế kỷ 16 giả thiết có một chất không có khối lượng, gọi là chất nhiệt, thấm vào các vật nhiều hay ít, làm cho các vật ấy nóng nhiều hay ít. Gải thiết sai lầm này mãi đến thế kỷ 19 mới bị loại bỏ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất phát ra ánh sáng trông thấy khi bị kích thích (nhận năng lượng của electron, hoặc của bức xạ tử ngoại). Nếu sau khi ngừng kích thích, sự phát quang còn tiếp tục trong một thời gian đáng kể (t > 10-6 giây) thì ta có chất lân quang.

Chất phát quang, nhất là chất lân quang, được dùng để làm màn đèn hình, màn tia X, đèn ống v.v.…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất phát quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất rắn ở trạng thái trong đó nó có thể tích và hình dạng xác định. Phải tác dụng lực lên chất rắn mới làm nó biến dạng. Biến dạng này có thể là đàn hồi, (mất đi sau khi lực ngoài thôi tác dụng), hoặc là dẻo (vẫn còn một phần sau khi lực ngoài thôi tác dụng). Biến dạng đàn hồi của vật rắn tuân theo định luật Húc.

Chất rắn có thể là chất kết tinh (có cấu trúc tinh thể), hoặc chất vô định hình.

Chất rắn tuyệt đối. Chất rắn hoàn toàn không biến dạng khi chịu lực; đây chỉ là mô hình lý tưởng, các chất rắn thực bao giờ cũng biến dạng khi chịu lực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất rắn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 09:17 PM
 

Chất sắt từ

1/ Định nghĩa:

Sắt từ là các chất có từ tính mạnh, hay khả năng hưởng ứng mạnh dưới tác dụng của từ trường ngoài, mà tiêu biểu là sắt (Fe), và tên gọi "sắt từ" được đặt cho nhóm các chất có tính chất từ giống với sắt. Các chất sắt từ có hành vi gần giống với các chất thuận từ ở đặc điểm hưởng ứng thuận theo từ trường ngoài. Tính sắt từ dùng để chỉ thuộc tính (từ tính mạnh) của các chất sắt từ.

Chất sắt từ là một trong những vật liệu được sử dụng sớm nhất trong lịch sử loài người, với việc sử dụng các đá nam châm làm la bàn hoặc làm các vật dụng hút sắt théptừ hơn 2000 năm trước, xuất phát là từ Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại.

2/ Các tính chất đặc trưng của chất sắc từ:

Các chất sắt từ như sắt (Fe), côban (Co), niken (Ni), gađôli (Gd)... là các chất sắt từ điển hình. Các chất này là các chất vốn có mômen từ nguyên tử lớn như sắt là 2,2 μB, Gd là 7 μB... và nhờ tương tác trao đổi giữa các mômen từ này, mà chúng định hướng song song với nhau theo từng vùng, còn gọi là các đômen từ tính. Mômen từ trong mỗi vùng đó gọi là từ độ tự phát - có nghĩa là các chất sắt từ có từ tính nội tại ngay khi không có từ trường ngoài. Đây là các nguồn gốc cơ bản tạo nên các tính chất của chất sắt từ.

Hình ảnh các đômen từ của màng CoIr chụp ở chế độ Fresnel trên kính hiển vi điện tử truyền qua.

a/Hiện tượng từ trễ: Là một đặc trưng dễ thấy nhất ở chất sắt từ. Khi từ hóa một khối chất sắt từ các mômen từ sẽ có xu hướng sắp xếp trật tự theo hướng từ trường ngoài do đó từ độ của mẫu tăng dần đến độ bão hòa khi từ trường đủ lớn (khi đó các mômen từ hoàn toàn song song với nhau). Khi ngắt từ trường hoặc khử từ theo chiều ngược, do sự liên kết giữa các mômen từ và các đômen từ, các mômen từ không lập tức bị quay trở lại trạng thái hỗn độn như các chất thuận từ mà còn giữ được từ độ ở giá trị khác không. Có nghĩa là đường cong đảo từ sẽ không khớp với đường cong từ hóa ban đầu, và nếu ta từ hóa và khử từ theo một chu trình kín của từ trường ngoài, ta sẽ có một đường cong kín gọi là đường cong từ trễ. Có nhiều cơ chế khác nhau để tạo ra hiện tượng trễ như cơ chế dịch chuyển vách, cơ chế quay mômen từ, cơ chế hãm sự phát triển của các mầm đảo từ... Và trên đường cong từ trễ, ta sẽ có các đại lượng đặc trưng của chất sắt từ như sau:

- Từ độ bão hòa: Là từ độ đạt được trong trạng thái bão hòa từ, có nghĩa là tất cả các mômen từ của chất sắt từ song song với nhau.

- Từ dư: Là giá trị từ độ khi từ trường được khử về 0.

- Lực kháng từ: Là từ trường ngoài cần thiết để khử mômen từ của mẫu về 0, hay là giá trị để từ độ đổi chiều. Đôi khi lực kháng từ còn được gọi là trường đảo từ.

-Từ thẩm: Là một tham số đặc trưng cho khả năng phản ứng của các chất từ tính dưới tác dụng của từ trường ngoài. Từ thẩm của các chất sắt từ có giá trị lớn hơn 1 rất nhiều, và phụ thuộc vào từ trường ngoài.

- Nhiệt độ Curie: Là nhiệt độ mà tại đó, chất bị mất từ tính. Ở dưới nhiệt độ Curie, chất ở trạng thái sắt từ, ở trên nhiệt độ Curie, chất sẽ mang tính chất của chất thuận từ. Nhiệt độ Curie là một tham số đặc trưng cho chất sắt từ, ví dụ như: Sắt: 1043 K; Côban: 1388 K; Niken: 627 K…

b/ Dị hướng từ tinh thể: Là năng lượng liên quan đến sự định hướng của các mômen từ và đối xứng tinh thể của vật liệu. Do tính dị hướng của cấu trúc tinh thể, sẽ có sự khác nhau về khả năng từ hóa khi ta từ hóa theo các phương khác nhau, dẫn đến việc vật liệu có phương dễ từ hóa, gọi là trục dễ (từ hóa) và phương khó từ hóa (gọi là trục khó). Năng lượng dị hướng từ tinh thể là năng lượng cần thiết để quay mômen từ trục khó sang trục dễ. Hằng số dị hướng từ tinh thể là các đại lượng đặc trưng cho các chất sắt từ.

3/ Tương tác trao đổi và đômen từ:

Tương tác trao đổi là tương tác được giả thiết theo lý thuyết sắt từ Heisenberg nhằm giải thích sự định hướng song song của các mômen từ trong vật liệu. Tương tác trao đổi có bản chất là tương tác tĩnh điện đặc biệt giữa các điện tử tạo ra sự định hướng song song của các spin khi các điện tử ở một khoảng cách đủ gần sao cho các hàm sóng của chúng phủ nhau để cực tiểu hóa năng lượng của hệ. Năng lượng tương tác trao đổi được cho bởi công thức:

với S1, S2 là các spin, J là tích phân trao đổi, cho bởi:

J mang giá trị dương khi các spin song song nhau và âm khi các spin phản song song. Ψ là hàm sóng của các điện tử.

Đômen từ: Nhờ có tương tác trao đổi, các mômen từ của chất sắt từ sắp xếp hoàn toàn song song với nhau, nhưng không phải trong toàn bộ vật thể mà trong từng vùng, gọi là các miền từ hóa, hay các đômen từ. Trong mỗi đômen, các mômen từ song song với nhau tạo nên từ độ tự phát của chất sắt từ, nhưng trong toàn vật thể ở trạng thái khử từ thì mômen từ của các đômen sẽ sắp xếp hỗn loạn nên tổng từ độ trong toàn khối vẫn bằng 0. Khi có từ trường ngoài, do các mômen từ có xu hướng bị quay theo từ trường nên sẽ dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc đômen như sự dịch chuyển vách đômen, sự thay đổi kích thước đômen, sự định hướng mômen từ.. tạo nên quá trình từ hóa phức tạp của chất sắt từ.

4/ Các loại vật liệu sắt từ:

Có nhiều cách khác nhau để phân chia các vật liệu sắt từ, nhưng cách thông dụng nhất vẫn là phân chia theo khả năng từ hóa và khử từ của vật liệu. Theo cách phân chia này sẽ có 2 nhóm vật liệu sắt từ chính:

Vật liệu từ cứng: Là các vật liệu sắt từ khó từ hóa và khó khử từ thường dùng cho các ứng dụng lưu trữ từ trường như nam châm vĩnh cửu, vật liệu ghi từ... Các vật liệu từ cứng điển hình là Nd2Fe14B, Sm2Co5, FePt…

Ứng dụng: dùng để chế tạo các nam châm vĩnh cửu hoặc được sử dụng làm vật liệu ghi từ trong các ổ đĩa cứng, các băng từ.

Nam châm đất hiếm NdFeB - vật liệu từ cứng điển hình.

Vật liệu từ mềm: Là các vật liệu sắt từ dễ từ hóa và dễ bị khử từ, thường dùng cho các ứng dụng hoạt động trong từ trường ngoài như lõi biến thế, nam châm điện, lõi dẫn từ, cảm biến từ trường... Các vật liệu từ mềm điển hình là sắt silic (FeSi), hợp kim permalloy NiFe...

Ứng dụng: lõi biến thế, lõi dẫn từ, cuộn cảm; nam châm điện; cuộn chặn, cảm biến đo từ trường…

5/ Ứng dụng của vật liệu sắt từ:

Có thể nói vật liệu sắt từ đang được nghiên cứu và ứng dụng hết sức rộng rãi trong khoa học, công nghiệp cũng như trong đời sống, từ các nam châm vĩnh cửu, đến các lõi biến thế, hay cao hơn là các ổ cứng máy tính, các đầu đọc ổ cứng... Một hiệu ứng khác của chất sắt từ là hiệu ứng từ nhiệt khổng lồ đang được nghiên cứu phát triển các thế hệ máy lạnh hoạt động bằng từ trường thay thế cho các máy lạnh truyền thống với ưu điểm không ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng và nhỏ gọn. Các hiệu ứng từ điện trở của các chất sắt từ cũng đang được khai thác để ra đời các linh kiện điện tử thế hệ mới gọi là spintronic, tức là các linh kiện hoạt động bằng cách điều khiển spin của điện tử...

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất sắc từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ từ thẩm rất lớn (cỡ trăm, nghìn). Trong chất sắt từ có những miền nhiễm từ tự nhiên (đômen sắt từ) có kích thước khoảng 10-4 – 10-3cm. Khi chưa có từ trường ngoài, các miền nhiễm từ sắp xếp hỗn độn nên mômen từ trường của chúng triệt tiêu nhau. Khi có từ trường ngoài B0 các miền nhiễm từ sắp xếp sao cho các momen từ cộng lại, sinh ra từ trường phụ B’ lớn hơn B0 rất nhiều. Khi B0 triệt tiêu thì chất sắt từ vẫn còn từ trường Bd gọi là cảm ứng từ dư. Từ trường này chỉ bị khử bởi một từ trường ngoài ngược chiều, đạt giá trị Bk gọi là cảm ứng khử từ.

Các chất sắt từ điển hình là sắt, coban, niken, gadolini … Chất sắt từ chỉ có tinh sắt từ tới một nhiệt độ cực đạ, xác định đối với từng chất, gọi là nhiệt độ Quyri (Curie) Tc. Ví dụ: Tc của sắt = 7700C.

Ứng dụng quan trọng nhất của chất sắt từ để làm nam châm điện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất sắt từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ từ thẩm lớn hơn đơn vị rất ít, ví dụ (nhôm) = 1,000023. Không khí, êbônit … là những chất thuận từ. Mỗi phân tử chất thuận từ có mômen từ nhỏ. Khi chưa có từ trường ngoài B0 thì các mômen từ này sắp xếp hỗn độn. Khi có từ trường ngoài tác dụng thì các mômen từ định hướng theo B0; sinh ra từ trường B’ nhỏ cùng chiều với B0 nên chất thuận từ bị cực nam châm hút (nhẹ). Nhiệt độ tăng thì độ từ thẩm của chất thuận từ giảm.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất thuận từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 09:15 PM
 

Chất thuận từ

1/ Giới thiệu chung:

Thuận từ là những chất có từ tính yếu. Tính chất thuận từ thể hiện ở khả năng hưởng ứng thuận theo từ trường ngoài, có nghĩa là các chất này có mômem từ nguyên tử giá trị nhỏ. Khi có tác dụng của từ trường ngoài, các mômen từ này sẽ bị quay theo từ trường ngoài, làm cho caảm ứng từ tổng cộng trong chất tăng lên. Thuận từ được xếp vào nhóm các chất phi từ, hoặc nhóm không có trật tự từ. Từ tính yếu của thuận từ do hai yếu tố đem lại:

vMômen từ nguyên tử.

vCác mômen từ nguyên tử này nhỏ và hoàn toàn không tương tác với nhau.

vCác chất thuận từ điển hình là: oxygen, nhôm…

Hình ảnh quen thuộc mà các bạn hay thấy là ôxy lỏng bị hút vào nam châm điện cũng chỉ quan sát thấy trong các nam châm mạnh bởi tính thuận từ cũng là tính chất yếu.

Mô hình về cấu trúc mômem của chất thuận từ: hệ mômen từ của chất thuận từ được xem như các nam châm nhỏ, độc lập, không tương tác.

2/ Chất thuận từ trong lý thuyết cổ Langevin:

Từ tính của chất thuận từ được tính theo mômen từ nguyên tử mà trong đó, coi rằng các mômen từ này không tương tác, không tồn tại tương tác trao đổi trong các chất thuận từ. độ từ hóa của chất thuận từ được xác định bởi:

kB,H,T là hằng số Boltzmann, từ trường ngoài và nhiệt độ.

N,V0 là số nguyên tử, thể tích của vật và mômen từ của một nguyên tử.

3/ Siêu thuận từ:

Siêu thuận từ (Superparamagnetism) là một hiện tượng, một trạng thái từ tính xảy ra ở các vật liệu từ, mà ở đó chất biểu hiện các tính chất giống như các chất thuận từ, ngay ở dưới nhiệt độ Curie . Đây là một hiệu ứng kích thước, về mặt bản chất là sự thắng thế của năng lượng nhiệt so với năng lượng định hướng khi kích thước của hạt quá nhỏ.

Hiện tượng siêu thuận từ xảy ra đối với các chất sắt từ có cấu tạo bởi các hạt tinh thể nhỏ. Khi kích thước hạt lớn, hệ sẽ ở trạng thái đa đômen, mỗi hạt sẽ cấu tạo bởi nhiều đômen từ. Khi kích thước hạt giảm dần, chất sẽ chuyển sang trạng thái đơn đômen, có nghĩa là mỗi hạt sẽ là một đômen. Khi kích thước hạt giảm quá nhỏ, năng lượng định hướng nhỏ hơn nhiều so với năng lượng nhiệt, khi đó năng lượng nhiệt sẽ phá vỡ sự định hướng song song của các mômen từ, và khi đó mômen từ của hệ hạt sẽ định hướng hỗn loạn như trong chất thuận từ.

4/ Ứng dụng:

Các vật liệu siêu thuận từ đang được ứng dụng nhiều trong vật lý và y-sinh học nhờ khả năng hồi đáp nhanh với sự tác dụng của từ trường bên ngoài. Siêu thuận từ được sử dụng trong các hạt nano từ tính, đặt trong các chất lỏng từ.

Ứng dụng vật lý:
Sử dụng các chất lỏng từ làm tăng tính truyền dẫn trong các hệ dẫn lực, dẫn nhiệt, dẫn từ, làm giảm nhiễu ồn ở loa điện động..
Làm nhân cho các hệ hạt tự lắp ghép.

Ứng dụng y - sinh học:
Dẫn thuốc.
Làm tăng độ tương phản của ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân.
Điều trị ung thư bằng đốt nóng thân nhiệt cục bộ...

Nhóm Khắc Minh+Nhất Hạnh - lớp 11A5-trường Lê Hồng Phong

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất thuận từ 1  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 07:22 PM
 

Vật mà khi nghiên cứu chuyển động của nó ta có thể bỏ qua hình dạng và kích thước, và coi như một điểm. Khi phạm vi chuyển động rất lớn so với vật thì có thể coi vật là chất điểm. Ví dụ: Khi nghiên cứu quỹ đạo của đạn trong không khí thì có thể coi đạn là chất điểm. Nhưng khi nghiên cứu chuyển động xoắn ốc của nó trong nòng súng thì không thể coi là chất điểm được.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất điểm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất mà điện tích chỉ nằm yên ở chỗ xuất hiện chứ không di chuyển được đi nơi khác. Chất điện môi có điện trở suất rất lớn. Ví dụ điện trở suất của thủy tinh là 109   m

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất điện môi, chất cách điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Chất khi hòa tan trong dung dịch, hoặc khi nóng chảy thì bi phân ly thành các ion âm và dương, trở thành dẫn điện tốt.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất điện phân  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tính từ dùng để so sánh các chiết suất. Khi chiết suất của môi trường 1 lớn hơn chiết suất của môi trường 2 thì ta nói rằng môi trường 1 chiết quang hơn môi trường 2.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chiết quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tỷ số n giữa sin của góc tới i và sin của góc khúc xạ r.

(1)

Nếu môi trường chứa tia tới là chân không thì n gọi là chiết suất tuyệt đối. Chiết suất tuyệt đối của một môi trường bằng tỷ số giữa vận tốc ánh sáng trong chân không c, và vận tốc của ánh sáng trong môi trường đang xét v: n = . Nếu n1và n2 là chiết suất tuyệt đố của hai môi trường 1 và 2, vvà v2 là chiết suất tuyệt đối của hai môi trường đang xét v: n = >1. Nếu n1 và n2 là chiết suất tuyệt đối của hai môi trường 1 và 2, v1 và v là vận tốc của ánh sáng trong hai môi trường ấy thì chiết suất của môi trường 2 đối với môi trường 1 (chiết suât tỷ đối) là:

Một tia sáng, khi đi qua mặt phân cách hai môi trường, bị khúc xạ theo định luật (1). Nếu gọi môi trường chứa tia tới là môi trường 1 và môi trường chứa tia khúc xạ là môi trường 2 thì n chính là n21.

Chiết suất của môi trường thay đổi theo tần số của ánh sáng, do đó có hiện tượng tán sắc.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chiết suất  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Phương pháp quan sát các cơ quan bên trong cơ thể bằng cách rọi tia X vào bệnh nhân đứng trước một màn huỳnh quang. Hình thu được do các mô khác nhau hấp thụ tia X khác nhau. Khi thay màn hình quang bằng phim ảnh thì gọi là chụp điện hay chụp X – quang.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chiếu điện, chiếu X – quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 11:06 PM
 

LOÀI CHIM TRÚ ĐÔNG

+ Từ bấy lâu nay, qua các thử nghiệm hành vi, các nhà khoa học đã biết rằng chim di trú sử dụng một loại la bàn từ trường nội tại (tức trong cơ thể) để định hướng bay. Nhưng việc la bàn đó vận hành cụ thể như thế nào thì vẫn còn là một ẩn số.

+ Giờ đây, nhà khoa học Dominik Heyers, thuộc Trường Đại học Oldenburg, Đức, và các cộng sự đã có những bằng chứng để khẳng định rằng những phân tử trong mắt chim di trú có sự liên kết với một khu vực trong não có chức năng định hướng.

+ Cụ thể là nhóm nghiên cứu đã xác lập được mối liên hệ chức năng trực tiếp giữa các tế bào trong võng mạc và một vùng ở não trước có tên là Cluster N. Theo đó, tín hiệu từ những tế bào thần kinh trong mắt nhạy cảm với hướng từ trường đã được nối với một khu vực ở não trước chịu trách nhiệm về thị giác.

+ Nhóm nghiên cứu đã tiêm một chất đánh dấu (tracer) vào Cluster N, trong khi một chất đánh dấu khác được tiêm vào võng mạc. Chất đánh dấu này có khả năng di chuyển dọc theo các sợi thần kinh.

+ Sau khi chim định hướng xong, nhóm nghiên cứu nhận thấy cả hai chất đánh dấu này đều di chuyển đến cùng một chỗ – đó là một khu vực chịu trách nhiệm về thị giác nằm trong vùng đồi (thalamus) của não.

+ Vùng đồi là nơi mà mọi tín hiệu từ các giác quan – như thị giác, thính giác, xúc giác và vị giác – đều phải đi qua trước khi được kết nối với những tế bào thần kinh ở các khu trung tâm khác của não. Có nghĩa những tín hiệu đó phải đi qua một bộ phận lọc thông tin rồi mới đến được khu vực não phân tích (não tư duy).

+ Qua thử nghiệm này, nhóm nghiên cứu xác định Cluster N và võng mạc có sự liên hệ chặt chẽ với nhau để giúp chim có khả năng định hướng theo từ trường. Nói cách khác, não đã xử lý những thông tin về hướng từ trường được chuyển đến từ mắt chim.

+ Điều đó có nghĩa là chim di trú cảm nhận từ trường như là một mô hình thị giác, tức “nhìn thấy” từ trường.

Bà Heyers giải thích rằng trong võng mạc chim di trú có các protein cryptochrome chứa các phân tử cần thiết cho việc cảm ứng từ trường. Chính các protein này đã kích thích các tế bào cảm thụ hình ảnh, tùy theo hướng của từ trường.

+ Theo nhóm nghiên cứu, các protein cryptochrome này đóng vai trò như một la bàn giúp chim di trú có khả năng định hướng trong khi bay.

@ Một số loại chim trú đông:

+ Chim Garden Warbler (chim chích) được ước tính có khoảng 10 triệu con trên toàn thế giới, thường sinh sản ở Bắc Âu và trú đông ở châu Phi. Loài chim này đã được dùng để thí nghiệm ở trên.

+ Chim Swainson (chim hét) là loài chim di trú có bộ lông màu nâu lục thường kiếm ăn ở các khu rừng tùng bách Alaska, miền nam Canada, bang bắc California, Michigan, New England và Newfoundland (Mỹ). Vào mùa thu, loài chim hét bay đi rất xa, đến Peru và Ecuador - nơi chúng trú đông - một quãng đường dài tối thiểu 4.800 km, phải bay không nghỉ suốt 16 tiếng qua vịnh Mexico. Loài chim này là những đối tượng thí nghiệm đặc biệt thuận lợi. Một điều ngẫu nhiên là các chú chim hét có những hành vi di trú ngay cả khi chúng chưa bao giờ rời khỏi phòng thí nghiệm. Trong chiếc lồng tròn, chúng nhảy nhót hướng về phía Nam nếu là vào mùa thu và về phía Bắc nếu là vào mùa xuân. Vào những mùa không đi di trú, loài chim này hoạt động vào ban ngày và ngủ vào đêm. Nhưng khi mùa thu đến và ngày trở nên ngắn hơn, những chú chim này bắt đầu ăn nhiều hơn - tăng cân trước khi di trú - và có những biểu hiện của "tình trạng không ngủ được về đêm". Vào thời kỳ đó chúng nhảy nhót suốt đêm. Giả thuyết ban đầu cho rằng, loài chim hét Swainson cũng dùng phương pháp ngủ một bán cầu não, một hình thức ngủ đã được quan sát thấy ở nhiều loài chim: một mắt nhắm còn mắt kia vẫn mở. Giả thuyết này cho rằng chim bay được với những quãng đường lớn là nhờ vào việc ngủ luân phiên từng bên não bộ của chúng. Nhưng sau khi thực hiện một số thí nghiệm sơ bộ, nhà nghiên cứu cho rằng cách ngủ này không phải là phương thức chính mà chim hét dùng để xử lý việc mất ngủ. Thay vì thế, chúng thay đổi thói quen hằng ngày vào mùa di trú: chúng ít hoạt động hơn và ngủ lơ mơ. Chúng có thể để cho mắt xếch lên và xù lông ra - một dấu hiệu của việc ngủ lơ mơ. Cách thức ngủ này rất hiếm gặp vào mùa không di trú. Nhà nghiên cứu cho rằng những giấc ngủ ngắn này rất quan trọng trong việc chiến đấu với tình trạng mất ngủ. Có thể chúng có những giấc ngủ cực ngắn trong khi bay. Để có thời gian dành cho những giấc ngủ dạng này, chim hét phải từ bỏ những việc mà Bingman mô tả là hoạt động khám phá hoặc chơi đùa nhảy nhót.

Nhóm:+ Phạm Anh Dũng

+ Châu Trọng Nam


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chim di trú  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 04:48 PM
 

Chim di trú “nhìn thấy” từ trường Trái Đất

Làm thế nào mà các loài chim di trú biết được đâu là hướng Bắc? Một nghiên cứu mới xác định rằng trong thực tế chúng đã “nhìn” được từ trường của Trái Đất để định hướng toàn cầu trong khi bay.

Các nhà khoa học Đức xác định rằng chim di trú đã “nhìn” được từ trường của Trái Đất để định hướng trong khi bay. (Ảnh: keralatourism.org)

Từ bấy lâu nay, qua các thử nghiệm hành vi, các nhà khoa học đã biết rằng chim di trú sử dụng một loại la bàn từ trường nội tại (tức trong cơ thể) để định hướng bay. Nhưng việc la bàn đó vận hành cụ thể như thế nào thì vẫn còn là một ẩn số.

Giờ đây, nhà khoa học Dominik Heyers, thuộc Trường Đại học Oldenburg, Đức, và các cộng sự đã có những bằng chứng để khẳng định rằng những phân tử trong mắt chim di trú có sự liên kết với một khu vực trong não có chức năng định hướng.

Cụ thể là nhóm nghiên cứu đã xác lập được mối liên hệ chức năng trực tiếp giữa các tế bào trong võng mạc và một vùng ở não trước có tên là Cluster N. Theo đó, tín hiệu từ những tế bào thần kinh trong mắt nhạy cảm với hướng từ trường đã được nối với một khu vực ở não trước chịu trách nhiệm về thị giác.

Nhóm nghiên cứu đã tiêm một chất đánh dấu (tracer) vào Cluster N, trong khi một chất đánh dấu khác được tiêm vào võng mạc. Chất đánh dấu này có khả năng di chuyển dọc theo các sợi thần kinh.

Sau khi chim định hướng xong, nhóm nghiên cứu nhận thấy cả hai chất đánh dấu này đều di chuyển đến cùng một chỗ – đó là một khu vực chịu trách nhiệm về thị giác nằm trong vùng đồi (thalamus) của não.

Chim di trú Garden Warbler đã được sử dụng trong nghiên cứu này. (Ảnh: Nature)

Vùng đồi là nơi mà mọi tín hiệu từ các giác quan – như thị giác, thính giác, xúc giác và vị giác – đều phải đi qua trước khi được kết nối với những tế bào thần kinh ở các khu trung tâm khác của não. Có nghĩa những tín hiệu đó phải đi qua một bộ phận lọc thông tin rồi mới đến được khu vực não phân tích (não tư duy).

Qua thử nghiệm này, nhóm nghiên cứu xác định Cluster N và võng mạc có sự liên hệ chặt chẽ với nhau để giúp chim có khả năng định hướng theo từ trường. Nói cách khác, não đã xử lý những thông tin về hướng từ trường được chuyển đến từ mắt chim.

Điều đó có nghĩa là chim di trú cảm nhận từ trường như là một mô hình thị giác, tức “nhìn thấy” từ trường.

Bà Heyers giải thích rằng trong võng mạc chim di trú có các protein cryptochrome chứa các phân tử cần thiết cho việc cảm ứng từ trường. Chính các protein này đã kích thích các tế bào cảm thụ hình ảnh, tùy theo hướng của từ trường.

Theo nhóm nghiên cứu, các protein cryptochrome này đóng vai trò như một la bàn giúp chim di trú có khả năng định hướng trong khi bay.

Chim di trú được sử dụng trong nghiên cứu này là Garden Warbler – loài chim được ước tính có khoảng 10 triệu con trên toàn thế giới, thường sinh sản ở Bắc Âu và trú đông ở châu Phi.

Lông vũ nắm bí mật về đường chim di cư

Chim chích nước.

Từ lâu, người ta đã biết Đông Âu là vùng sinh sản chính của chim chích nước, một loài chim bị nguy cấp trên toàn cầu, nhưng chưa ai tìm thấy nơi trú đông của chúng. Các nhà khoa học hy vọng nhờ phân tích đồng vị hóa học trên lông vũ, họ có thể tìm ra lộ trình di cư bí ẩn này.

Chim chích nước sinh sản chủ yếu ở Ba Lan, Belarus, Ukraina, và một lượng nhỏ sống ở Lithuania và Hungary. Ở Tây Âu, hầu hết sinh cảnh của loài chim này đã biến mất từ năm 1945. Người ta cho rằng chim chích nước nghỉ đông ở các đầm lầy Tây Phi, phía nam sa mạc Sahara. Nhưng cho đến nay, chưa bắt được con nào ở đây.

Chim chích nước có thể trú đông ở đầm lầy Tây Phi, nhưng không ai chắc chắn.

Một nhóm khoa học tại Hiệp hội Bảo tồn chim Hoàng gia Anh (RSPB) đang nghiên cứu các đồng vị bền (những nguyên tử của cùng một nguyên tố nhưng có khối lượng khác nhau) và các nguyên tố vết trong lông chim để tìm ra nơi chúng trú đông. RSPB cho biết: “Khi lông chim mọc, hàm lượng các nguyên tố và tỷ lệ đồng vị bền lắng đọng trong đó phản ánh đặc điểm về nguyên tố và đồng vị trong môi trường mà chúng sống, và đặc điểm này duy trì ổn định suốt cuộc đời của chiếc lông”.

Chim chích nước mọc lông đuôi và lông cánh ở châu Phi. Do vậy, chỉ cần thu thập lông của chúng tại các vùng sinh sản ở châu Âu, ta sẽ biết về những hồ nước nơi chúng trú đông. Thậm chí lông của các loài chim chích châu Phi sống cùng khu vực đó (loài thay thế) cũng sẽ có những dấu hiệu hóa học và đồng vị tương tự với chim chích nước châu Âu.

Nhóm nghiên cứu đã thu thập mẫu vật từ một loạt loài chim thay thế ở hồ Chad, Nigeria. Họ đã phát hiện ra rằng chim chích Ba Lan nghỉ đông ở đâu đó, không cùng khu vực với đồng loại của chúng có xuất xứ từ Ukraina và Belarus. Tuy nhiên, việc truy tìm nơi trú đông này vẫn chưa đến đích, và các nhà khoa học còn đang “dò dẫm” ở những bước đi đầu tiên.

Chim đi trú đông

Nói về những loài động vật di cư đi trú đông: Làm sao chúng biết được khi nào phải đi trú đông trước khi mùa đông đến và chúng nên đi đâu để tránh mùa đông? Nếu chúng ..chờ thời tiết lạnh đến, rồi chờ cho những chi trên cơ thể phát triển đủ mạnh, đủ bền để di chuyển..thì có lẽ chúng đã chết hết rồi. Mà chết thì không thể tiến hóa.

Làm thế nào một con chim nhỏ có thể di chuyển qua đại dương để tìm nơi di trú mà không mệt mỏi, chết trong 9 ngày bay liên tục? Chỉ có thể do Đấng Tạo Hóa tạo nên.

Đầu tháng trước, một nàng chim Godwit đuôi sọc, một giống chim nước, đã hoàn thành chuyến bay lịch sử từ Alaska băng qua Thái Bình Dương tới New Zealand, không hề ăn uống trên đường đi.

Hành trình từ New Zealand tới Alaska của chim godwit. Ảnh: LiveScience

Các nhà sinh học theo dõi chuyến đi này cho biết, đây là chuyến di cư không nghỉ dài nhất của chim từng được ghi nhận. Con chim lội, còn được gọi là godwit đuôi sọc, hoàn tất hành trình trong 9 ngày.

Các nhà khoa học còn tiết lộ loài chim này di chuyển thẳng qua Thái Bình Dương mênh mông thay vì bay dọc theo bờ Đông châu Á.

“Điều này chứng tỏ loài chim có những điều kỳ diệu và khó tin biết bao”, Phil Battley, từ Đại học Massey ở New Zealand, một thành viên nhóm nghiên cứu nhận định.

Khoảng 70.000 con chim godwit đuôi sọc (Limosa lapponica) thực hiện chuyến di cư này mỗi năm. Godwit dành cả mùa hè để sinh sản ở miền tây và bắc Alaska, rồi tụ tập lại ở Bán đảo Alaska vào mùa thu để thực hiện chuyến bay dài tới trú đông ở New Zealand và đông nam Australia. Sang xuân, chúng thực hiện hành trình ngược lại (trên hình).

Battley và cộng sự đã gắn các thiết bị truyền tín hiệu vệ tinh vào 16 con chim tại hai địa điểm ở New Zealand trong mùa hè vừa qua.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chim di trú 1  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Ðổi dòng điện xoay chiều thành dòng điện một chiều.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chỉnh lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Đặc trưng của một chất phóng xạ, bằng khoảng thời gian để sau đó một nữa số nguyên tử của các chất ấy bị phân rã. Cũng áp dụng cho sự phân rã của các hạt sơ cấp không bền.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chu kì bán rã  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Khoảng thời gian nhỏ nhất để sau đó hệ có chuyển động tuần hoàn trở lại đúng trạng thái của nó ở thời điểm ban đầu của khoảng. Cũng là thời gian để hệ giao động thực hiện được một giao động, hoặc sóng lan truyền được một bước sóng. Chu kì T liên hệ với tần số f theo công thức T=1/f.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chu kỳ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chuỗi quá trình khép kín, nghĩa là sau mỗi chu trình hệ trở lại trạng thái xuất phát.

Chu trình Cacnô. Chu trình hoạt động của một động cơ nhiệt lí tưởng, gồm hai quá trình đẳng nhiệt ở các nhiệt độ T1 (của nguồn nóng) và T2  (của nguồn lạnh) và hai quá trình đoạn nhiệt (H.24).

Hiệu suất của động cơ nhiệt lí tưởng làm việc theo chu trình Cacnô với tác nhân là khí lí tưởng, bằng Theo định luật Cacnô mọi máy nhiệt thực có nhiệt độ nguồn nóng là T1 và nhiệt độ nguồn lạnh T2 đều có hiệu suất thấp hơn hiệu suất của máy nhiệt lí tưởng .

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chu trình  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chu trình biến thiên của cảm ứng của ứng từ B của một chất sắt từ theo sự biến thiên tuần hoàn của từ trường ngoài (có cảm ứng từ B0). Đồ thị của chu trình từ trễ có dạng vẽ trong hình 25, B không đổi dấu đồng thời với B0 mà trễn hơn, nên khi B0 triệt tiêu thì B vẫn có một giá trị Bđ gọi là cảm ứng từ dư. Giá trị Bk mà B0 cần có để làm B triệt tiêu gọi là cảm ứng khử từ. (hình 25)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chu trình từ trễ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Vật hoặc dụng cụ thể hiện cụ thể một đơn vị đo lường, làm mẫu mực cho tất cả các nước (chuẩn quốc tế) hoặc cho một nước (chuẩn quốc gia và các chuẩn sao), một tỉnh (chuẩn thứ, chế tạo với số lượng tương đối lớn để kiểm định các dụng cụ đo lường)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuẩn đo lường  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tập hợp các tia sáng trong một hình nón hoặc hình trụ. Nếu tia sáng (hoặc đường thẳng kéo dài của chúng) xuất phát từ một điểm (đỉnh của hình nón) thì chùm sáng là phân kỳ; nếu chúng đi tới gặp nhau ở một điểm, thì chùm sáng là hội tụ. Trong chùm sáng song song, các tia sáng là những đường thẳng song song nhau.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chùm sáng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Kỹ thuật thu hình ảnh của một vật bằng một dụng cụ gọi là máy ảnh. Máy này có bộ phận chủ yếu và vật kính, cho ảnh thực của vật trên phim hoặc kính ảnh mà bề mặt có chất nhạy sáng (bạc holagenua). Các tia sáng đi từ vật rọi vào lớp nhạy sáng làm giải phóng bạc tạo thành ảnh ẩn tàng. Sau khi ngâm phim trong thuộc hiện và thuốc hãm thì ta có ảnh âm bản (chỗ sáng trên vật thành đem trên phim và ngược lại). từ phim âm bản có thể in ra giấy ảnh (giấy có phủ lớp nhạy sáng) rất nhiều ảnh dương bản với những chỗ đen trắng đúng như ở vật.

            Chụp ảnh nổi. Kỹ thuật cho hình ảnh của vật sao cho khi quan sát cũng có cảm giác về chiều sâu như nhìn vật thực. Một phương pháp đơn giản để chụp ảnh nổi là chụp hia hình của vật từ hai điểm khác nhau, ứng với mắt phải và mắt trái.

            Chụp toàn ảnh (tiếng Anh Holography). Kỹ thuật chụp ảnh nổi hiện đại, (dùng tia lade khi chụp và quan sát), cho cảm giác giống hệt như khi nhìn vật thực. Đặc điểm là một mẫu ảnh toàn ảnh cũng cho hình như cả ảnh chỉ kém rõ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chụp ảnh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự chuyển của nguyên tử, hạt nhân … từ trạng thái này sang trạng thái khác, kèm theo sự phóng ra hay hấp thu photon có năng lượng bằng hiệu những năng lượng của hai trạng thái ấy.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển lượng tử  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 07:22 PM
 

Theo nghĩa rộng dùng trong triết học, là sự biến đổi nói chung. Theo nghĩa hẹp – chuyển động cơ học – là sự biến đổi theo thời gian của một vị trí đối với vật khác hoặc của các phần của vật đối với nhau..

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chuyển động có mô đun vận tốc tăng đều hoặc giảm đều với thời gian. Trường hợp đầu gọi là chuyển động nhanh dần đều . Trường hợp sau gọi là chuyển động chậm dần đều (v0 là vận tốc ban đầu ). Hằng số a gọi là gia tốc, nếu quỹ đạo là đường thẳng; gọi là gia tốc tiếp tuyến, nếu quỹ đạo là đường cong. Vậy chuyển động biến đổi đều là chuyển động có gia tốc (tiếp tuyến) không đổi về trị số. Nếu chọn một chiều dương trên quỹ đạo và xét các giá trị đại số của vận tốc v và gia tốc a thì chuyển động là nhanh dần đều nếu v và a cùng dấu, chậm dần đều nếu v và a khác dấu.

Quãng đường đi của vật là hàm căn bậc hai của thời gian:

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động biến đổi đều  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Nhà thực vật học người Anh 1773 – 1858 đã phát hiện ra chuyển động này). Chuyển động hỗn động của các hạt nhỏ đường kính cỡ 10-3 mm nằm lơ lửng trong chất lỏng, do các va chạm không cân bằng nhau của các phân tử chất lỏng với một hạt lơ lửng. Chuyển động này là một bằng chứng về sự tồn tại của các phân tử và nguyên tử

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động Braonơ (Brown)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chuyển động mà quỹ đạo là một đường cong. Vận tốc  có phương của tiếp tuyến với đường cong. Gia tốc  nói chung có hai thành phần: gia tốc tiếp tuyến at và gia tốc hướng tâm (hay pháp tuyến) an(H.26)

                       

            R là bán kính chỉnh khúc ở điểm đang xét. Nếu quỹ đạo là đường tròn, ta có chuyển động tròn, R là bán kính của đường tròn. Nếu chuyển động tròn là đều, vận tốc có mo đun không đổi nhưng luôn luôn đổi phương, gia tố là gia tốc hướng tâm, có mô đun không đổi.

            Chuyển động tròn có thể xác định bằng vận tốc góc w (bằng cung tròn đi được trong 1s) và gia tốc . Trong chuyển động tròn đều, w không đổi và .

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động cong  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chuyển động của chất lưu (chất lỏng và chất khí) có hai dạng : chuyển động thành lớp và chuyển động xoáy. Trong chuyển động thành lớp các phần tử chất lưu tạo thành những lớp song song, mỗi phần tử khi chuyển động vẫn nằm trong một lớp, không nhảy sang lớp khác. Vận tốc của các lớp dối với nhau hoặc đối với thành ống chênh lệch nhau ít.

Chuyển động thành lớp gọi là ổn định (hay dừng nếu ở mỗi điểm vận tốc và khối lượng riêng của chất lưu không đổi với thời gian (có thể khác nhau ở các điển khác nhau). Chuyển động này tuân theo phương trình liên tục và phương trình Becnuli.

Trong chuyển động xoáy, các phần tử chất lưu tạo thành các xoáy ở đó chúng có chuyển động quay phức tạp. vận tốc các phần tử biến đổi nhiều từ điểm này đến điểm khác.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động của chất lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chuyển động của vật rắn gọi là chuyển động tịnh tiến nếu đoạn thẳng AB nối hai điểm nhất định của vật luôn song song với chính nó. Chuyển động của vật rắn là sự quay quanh một trục cố định Z nếu các điểm vật vạch ra các đường tròn có tâm nằm trên một đường thẳng cố định, gọi là trục quay, vuông góc với mặt phẳng của các đường tròn (H. 27). Nếu w là vận tốc của vật rắn thì vận tốc dài của một điểm M các trục quay khoảng r là:

Phương trình chuyển động của vật rắn quay quanh một trục cố định là Iy = M, trong đó I là mô men các ngoại lực đối với trục quay.

Chuyển động phẳng hay chuyển động song phẳng của vật rắn là chuyển động của vật rắn trong đó mỗi điểm của vật chuyển động trong một mặt phẳng nhất định, các mặt phẳng này đều song song nhau. Để nghiên cứu chuyển động song phẳng người ta nghiên cứu:

1) Chuyển động của khối tâm

2) Chuyển động quay của vật quay quanh trục đi quan khối tâm và vuông góc với các mặt phẳng chứa quỹ đạo các điểm, coi trục này là cố định.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động của vật rắn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chuyển động hỗn loạn của các phân tử của một chất. Gọi như vậy vì động năng trung bình của mỗi phân tử tỷ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối của chất đang xét.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chuyển động của chất điểm M đối vói hệ quy chiếu O’; hệ này chuyển động đối với một hệ quy chiếu O coi là đứng yên. Chuyển động của M đối với hệ O gọi là chuyển động tuyệt đối. vận tốc và gia tốc của chất điểm trong hệ O’ gọi là vận tốc và gia tốc tương đối; vận tốc và gia tốc của nó trong hệ O gọi là vận tốc và gia tốc tương đối (H.28). Nếu ở thời điểm t chất điểm M trùng với một điểm K cố định trong hệ O’ thì vận tốc và gia tốc của K đối với hệ O gọi là vận tốc và gia tốc kéo theo. Ta có định luật cộng vận tốc: , nhưng chỉ có định luật cộng gia tốc tương tự nếu hệ O’ chuyển động tịnh tiến đối với hệ . Nếu hệ O’ có và chuyển động quay thì ta có: là gia tốc Côriôlit.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động tương đối  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

1. Chuyển động của chất điểm có trị số vận tốc v không đổi theo thời gian. Quãng đường đi được sau thời gian t là s – vt

2. Chuyển động quay của vật rắn quanh một trục cố định là đều nếu vận tốc góc w không đổi. Góc a mà vật quay được sau thời gian t là a = w t

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chuyển động đều  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Vật rắn có một trục cố dịnh, khi chịu tác dụng của lực, thường là trọng lực, thì dao động quanh trục ấy.

Con lắc đơn (con lắc toán học). Một vật nặng nhỏ, coi như một chất điểm, treo vào một điểm cố định bằng một sợi dây không giãn, khối lượng không đáng kể. Nếu cho con lắc đơn dao động với biên độ nhỏ ở nơi có gia tốc trọng trường là g thì chu kỳ của con lắc là , 1 là độ dài của con lắc.

Con lắc vật lý. Một vật rắn chịu tác dụng của trọng lực và dao động quanh một trục cố định nằm ngang (không đi quan khối tâm). Nếu m là khối lượng của con lắc, d là khoảng cách từ khối tâm đến trục quay và I là mômen quán tính của vật rắn với trục quay thì chu kỳ dao động (với biên độ nhỏ) của con lắc vật lý là:

Con lắc thuận nghịch. Một con lắc vật lý làm dưới dạng một thanh cứng mang hai khối trượt và có thể dao động quanh hai trục song song không đối xứng nhau qua khối tâm. Nếu điều chỉnh vị trí của một khối sao cho các chu kỳ dao động của con lắc quanh hai trục bằng nhau thì khoảng cách giữa hai trục đúng bằng nhau thì khoảng cách giữa hai trục đúng bằng độ dài của con lắc đơn đồng bộ, nghĩa là có cùng chu kỳ dao động với con lắc thuận nghịch để đo chính xác gia tốc trọng trường (H.29)

Con lắc xoắn. Một bánh xe có thể dao động quanh một trục dưới tác dụng của một lò xo xoắn. Nếu I là mô men quán tính của bánh xe đối với trục quay, là hằng số xoắn của lò xo xoắn (xác định bởi đẳng thức M = k a , M là mô men lực má lò xo sinh ra khi bánh xe quay góc a thì chu kỳ của con lắc xoắn là cũng không phụ thuộc vào biên độ (có thể lớn)

Con lắc xoắn là bộ phận bảo đảm cho đồng hồ đeo tay, để bàn … đếm thời gian đều đặn. Lò xo xoắn rất mảnh nên thường gọi là dây tóc (H.30)

Con lắc thử đạn (con lắc xung kích) Con lắc vật lý dùng để đo vận tốc của đạn. Đạn bắn ra cắm vào con lắc làm nó quay một góc, từ góc này có thể tính ra vận tốc của đạn

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Con lắc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Vật rắn đối xứng tròn xoay đối với một trục đi qua khối tâm và có thể quay quanh trục ấy. Nếu đỡ con quay bằng giá đỡ cacđăng sao cho khối tâm cố định và trục quay có thể định hướng bất kỳ thì ta có con quay tự do. Đặc tính của con quay tự do là do mo men các ngoại lực băng không nên mô men động lực )I là mô men quán tính đối với trục quay), và do đó vec tơ vận tốc góc được bảo toàn: trục quay giữ nguyên hướng đối với hệ quy chiếu quán tính (tức là đối với các ngôi sao). Đặc tính này được ứng dụng để làm la bàn con quay, và điều khiển tự động các ngư lôi, máy bay … đi theo một hướng định.

Con quay hồi chuyển (H.31) có một điểm cố định không trùng với khối tâm. Nó chịu mô men của trọng lực đối với điểm O, nếu không quay thì nó đổ xuống theo phương của P. Nhưng nếu nó quay thì nó lại có chuyển động đặc biệt gọi là tiến động (hay hồi chuyển): trục quay dịch chuyển theo hướng vuông góc với , nên vạch ra một hình nón có trục thẳng đứng. Người ta quan sát được sự tiến động trong rất nhiều hiện tượng (tiến động của con quay trẻ con chơi, của electron, của Trái đất …)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Con quay  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đại lượng vật lý đặc trưng cho tác dụng của lực. Công nguyên tố dA mà lực F thực hiện khi điểm đặt của nó dịch chuyển một khoảng nhỏ ds là dA = F.ds.cos a , a là góc giữa F và ds (H.32). Công của lực trên cả đường đi L bằng tổng các công nguyên tố

Nếu tac dụng lực lên một vật quay quanh một trục cố định và có mô men M đối với trục ấy, thì công của nó ứng với góc quay nguyên tố d j là:

dA = Md j

Công là số đo của sự biến thiên năng lượng. Ví dụ, độ biến thiên động năng của một hệ bằng công suất của tất cả các nội lực và ngoại lực. Nếu một hệ được cách nhiệt thì độ biến thiên nội năng của hệ bằng công của ngoại lực.

Đơn vị công trong hệ SI là Jun, ký hiệu J

1 jun – 1 niu tơn . mét

( Jun – Joule là tên nhà vật lý học người Anh, 1818 – 1889)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Công  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Thuật ngữ chung để trỏ hiện tượng xảy ra trong một hệ dao động cưỡng bức, khi tần số kích thích đạt một giá trị nhất định thì biên độ dao động tăng đột ngột.

            Ví dụ về cộng hưởng cơ: Cầu treo có thể dao động với một tầm số gọi là tần số riêng của cầu. Nếu một đoàn quân đi đều bước qua cầu thì lực tác dụng là tuần hoàn và có tần số xác định. Nếu tần số này bằng tần số riêng của cầu thì biên độ dao dộng của cầu tăng vọt, cầu có thể bị gãy (như đã  xảy ra với chiếc cầu bắc qua sông Loa ở Pháp, năm 1850)

            Ví dụ về cộng hưởng âm thanh: Nếu dùng một nam châm điện để kích thích một dây đàn bằng thép thì dây đàn chỉ phát âm mạnh (có cộng hưởng) khi tần số kích thích bằng nf1, n là số dương , f1 là tần số cơ bản của dây đàn, phụ thuộc và chiều dài, khối lượng của đơn vị dài và lực căn dây  f1 còn gọi là họa âm thứ nhất; f2 = 2f1 gọi là họa âm thứ nhì, f3’’ = 3f1 là họa âm thứ ba v.v.…

            Cộng hưởng điện: nếu một khung dao động gồm có các yếu tố R, L, C mắc nối tiếp được kích thích bởi hiệu điện thế có tần số w thì biên độ dòng điện I0 phụ thuộc vào w bằng , là tần số riêng của khung. Cộng hưởng là nhọn (rõ) nếu R nhỏ, là tù (không rõ lắm) nếu R lớn. Cộng hưởng nối tiếp còn gọi là cộng hưởng thế vì hiệu điện thế giữa hai đầu cuộn dây L (hoặc tụ C) lớn hơn hiệu điện thế kích thích được đặt vào một cuôn dây và một tụ lắp song song (H.34) thì khi  ta có cộng hưởng dòng: dòng qua cuộn dây L hoặc tụ C lớn hơn nhiều so với dòng I ở mạch chính.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Cộng hưởng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đại lượng đặc trưng cho khả năng chuyển hóa năng lượng nhanh hay chậm của một máy, bằng công chuyển hóa dA thì công suất là

Đơn vị công suất trong hệ SI là oát, ký hiệu A

1 oát =

(Oát = Walt là tên một kỷ sư người Anh, 1736 – 1819)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Công suất  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

1. Công suất dòng điện không đổi I. Nếu U là hiệu điện thế giữa hai đầu của một đoạn mạch thì công suất điện tiêu thụ trên đoạn ấy là P = UI

2. Công suất của dòng điện xoay chiều. Đại lượng có ý nghĩa là công suất trung bình (trong một chu kỳ), bằng P = UIcos j . U và I là các giá trị hiệu dụng của hiệu điện thế và dòng điện, cos j gọi là hệ số công suất. P đo bằng oát như các công suất cơ. Tích P0 = UI gọi là công suất biểu kiến hoặc công suất toàn phần,, đo bằng vôn – ampe. Nói chung cos j < 1 nên P < P0 . Nếu đoạn mạch chỉ có cuộn dây (hoặc tụ) điện trở thuần không đáng kể, thì , cuộn dây (hoặc tụ) không tiêu thụ năng lượng.

Trong thực tiễn, với cùng một công suất tiêu thụ điện P, phải phấn đấu để giảm dòng I bằng cách tăng cos j (lắp thêm tụ cho các động cơ)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Công suất điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Công suất cho áp suất khí quyển p theo độ cao h, với giả thiết nhiệt độ của khí quyển không đổi theo độ cao, , trong đó p0 là áp suất khí quyển ở mặt đất (h = 0) m là khối lượng mol của không khí, g là gia tốc trọng trường, T là nhiệt độ tuyệt đối của khí quyển, R là hằng số các khí lý tưởng; (exp(A) trỏ eA).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Công thức phong vũ biểu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một đơn thức cho ta mối liên hệ giữa một đại lượng vật lý dẫn xuất X và các đại lượng đã được chọn làm đại lượng cơ bản trong một một hệ đơn vị. Ví dụ trong hệ SI, chiều dài ký hiệu (ký hiệu L) khối lượng (M) thời gian (T) … đã được chọn làm đại lượng cơ bản thì công thức thứ nguyên của đại lượng X có dạng

p,q,r là các số nguyên hoặc phân số, âm hoặc dương. Ví dụ công thức thứ nguyên của vận tốc là [v] = LT-1, vì vận tốc bằng chiều dài chia cho thời gian. Cũng có thể viết [v] = ms-1 để thấy đơn vị của đại lượng dẫn xuất phải suy từ các đơn vị cơ bản ra như thế nào.

Quy tắc thứ nguyên cho ta điều kiện cần để một phương trình vật lý là đúng; nếu thay trong hai vế các đại lượng bằng công thức thứ nguyên của chúng thì hai vế phải đồng nhất. Đây không phải là điều kiện đủ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Công thức thứ nguyên  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

( Torricelli, nhà vật lý học người Italia, 1608 – 1647) Công thức cho vận tốc v của dòng chất chảy lỏng qua một lỗ nhỏ của thành bình: ; h là khoảng cách từ lỗ đến mặt thoáng của chất lỏng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Công thức Torixenli  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ đo điện năng tiêu thụ trong mạch điện tính ra kilooát giờ (kWh)

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Công tơ điện, máy đếm điện năng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hợp kim của đồng và niken, dung để làm các điện trở mà gái trị không đồi trong một khoảng nhiệt độ rộng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Constantan  

Trang:  1  2  3  4  5  6  7  8  9  (Tiếp theo)
Tất cả