Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang:  1  2  3  4  5  (Tiếp theo)
Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một cực của tranzito (triôt bán dẫn), còn gọi là cực gốc.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: badơ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Hai vật dẫn đặt gần nhau, nhưng cách điện, hợp thành một tụ điện, mỗi vật là một bản cực. Bản cực thường là tấm, lá kim loại mỏng.

        Các điện cực của acquy có dạng bản mỏng nên cũng gọi là bản cực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bản (cực)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Bán kính quỹ đạo nhỏ nhất của êlectrôn trong nguyên tử hiđrô, tính theo mẫu nguyên tử Bo, bằng 5,292.10-11 m.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính Bo.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Bán kính chính khúc R ở một điểm M của một đường cong là bán kính của vòng tròn mật tiếp với đường cong ở điểm ấy. Vòng tròn mật tiếp là giới hạn của vòng tròn đi qua 3 điểm N, M, P khi N và P tiến tới M (H. 7).

        Nếu đường cong là một vòng tròn thì ở mọi điểm, bán kính của nó chính là bán kính chính khúc. Ở đoạn đường thẳng hoặc ở điểm uốn của đường cong, bán kính chính khúc vô cùng lớn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính chính khúc.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Nếu một vật rắn có khối lượng m và mômen quán tính I đối với một trục nào đó thì bán kính quán tính của vật đối với trục  ấy là khoảng cách l từ trục đến một chất điểm có cùng khối lượng m và mômen quán tính I: I = m.l2.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính quán tính, bán kính hồi chuyển  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Véctơ gốc là gốc tọa độ O và ngọn là điểm đang xét M gọi là bán kính vectơ của điểm M. Các hình chiếu của bán kính vectơ xuống ba trục tọa độ là các tọa độ của điểm M.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính vectơ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Bản trong suốt có hai mặt là mặt phẳng song song, cách nhau một khoảng d, làm bằng chất có chiết suất khác với chiết suất của môi trường trong đó ta đặt bản (H. 6). Nếu n là chiết suất tỉ đối của bản đối với môi trường thì ảnh A’ của điểm A qua bản bị dịch chuyển một đoạn , gần bản hơn nếu n > 1.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bản mặt song song.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Bản có độ dày rất nhỏ, cỡ bước sóng ánh sáng. Các tia sáng phản xạ lên hai mặt của bản giao thoa với nhau, điều này giải thích hiện tượng các màng xà phòng, các lớp dầu hỏa trên mặt nước… có màu sắc cầu vồng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bản mỏng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Gồm có hai băng bằng kim loại khác nhau, có kích thước bằng nhau và hàn với nhau theo suốt chiều dài (H. 8). Khi nhiệt độ tăng, vì có hệ số nở khác nhau nên băng kép cong lại. Sự biến dạng này được ứng dụng để chế tạo máy điều nhiệt, rơle nhiệt… (Bình thường băng kép A tựa vào vít B và có dòng điện chạy, nếu nhiệt độ tăng quá mức đã định thì băng kép cong lên và ngắt mạch, nhiệt độ giảm thì băng kép lại đóng mạch).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: băng kép  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Băng nhựa có phủ một lớp chất sắt từ, dùng để ghi và phát âm. Qua micrô, âm thanh được biến đổi thành dòng điện âm tần, dòng điện này làm biến đổi từ trường của một nam châm điện (đầu từ). Băng từ đi sát vào rãnh của nam châm sẽ bị từ hóa và như vậy âm được ghi dưới dạng từ. Sự từ hóa này giữ được lâu và chỉ mất nếu bị xóa bởi một từ trường cao tần. Quá trình phát âm có các khâu ngược với ghi âm. Hình 9 là sơ đồ đầu tư ghi âm. Đi ngang qua nam châm 1, băng từ 2 bị từ hóa; các vùng nhiễm từ tự phát (đômen) lúc chưa ghi âm sắp xếp hỗn độn thì sắp xếp lại theo trật tự nhất định thể hiện âm cần ghi.

Nguyên tắc ghi âm trên đây cũng được áp dụng để ghi cả âm và hình lên băng từ hình, thường gọi là băng video. Vì có hai dải tần số khác nhau (âm và hình) nên máy video khá phức tạp, có 2 hoặc 4 đầu từ gắn vào một cái tang trống quay.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: băng từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Bánh xe có khối lượng lớn lắp vào trục động cơ (tĩnh tại) để điều hòa chuyển động quay của trục động cơ. Vì có quán tính lớn, vận tốc của bánh đà thay đổi chậm, nó thu được động năng trong kỳ phát động và cung cấp động năng trong các kỳ thụ động của động cơ, làm cho động cơ chạy đều. Động cơ lắp trên các xe không cần có bánh đà vì bản thân xe đó có khối lượng lớn, đủ để điều hòa chuyển động.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bánh đà  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Biến đổi đột ngột và có cường độ lớn của từ trường Trái Đất, liên quan đến hoạt động của Mặt Trời.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bão từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 10:58 PM
 

BÃO TỪ (MAGNETIC STORM)

+ Bão từ hay còn gọi là bão địa từ trên Trái Đất là những thời kỳ mà kim la bàn dao động mạnh. Nguyên nhân gây ra bão từ là do dòng hạt mang điện phóng ra từ các vụ bùng nổ trên Mặt Trời tác dụng lên các đường cảm ứng từ của Trái Đất. Trên một số hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, nhất là các hành tinh có từ quyển (như Sao Thổ) cũng có hiện tượng tương tự.

+ Các quá trình được miêu tả như sau:

1.Các dòng hạt mang điện phóng ra từ Mặt Trời sinh ra một từ trường, có độ lớn vào khoảng 6.10-9tesla.

2.Từ trường này ép lên từ trường Trái Đất làm cho từ trường nơi bị ép tăng lên.

3.Khi từ trường Trái Đất tăng lên, từ thông sẽ biến thiên và sinh ra một dòng điện cảm ứng chống lại sự tăng từ trường của Trái Đất.

4.Dòng điện cảm ứng này có thể đạt cường độ hàng triệu ampe chuyển động vòng quanh Trái Đất và gây ra một từ trường rất lớn tác dụng lên từ trường Trái Đất.

5.Hiện tượng này tiếp diễn làm cho từ trường Trái Đất liên tục biến thiên và kim la bàn dao động mạnh.

+ Nếu hướng của từ trường trong tầng điện ly hướng về phía Bắc, giống như hướng của từ trường Trái Đất, bão địa từ sẽ lướt qua hành tinh của chúng ta. Ngược lại, nếu từ trường hướng về phía Nam, ngược với hướng từ trường bảo vệ của Trái Đất, các cơn bão địa từ mạnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Trái Đất. Mặc dù khí quyển Trái Đất chặn được các dòng hạt năng lượng cao đến từ Mặt Trời này (gồm electronproton), song các hạt đó làm xáo trộn từ trường của hành tinh, cụ thể là từ quyển, có thể gây ra rối loạn trong liên lạc vô tuyến hay thậm chí gây mất điện.

+ Các vụ phun trào khí và nhiễm điện từ Mặt Trời được xếp theo 3 cấp: C là yếu, M là trung bình, X là mạnh. Tùy theo cấp cao hay thấp mà ảnh hưởng của nó lên từ trường Trái Đất gây ra bão từ nhiều hay ít. Bão từ được xếp theo cấp từ G1 đến G5, G5 là cấp mạnh nhất. Theo nhiều nghiên cứu thì hiện nay các cơn bão từ xuất hiện nhiều hơn và mạnh hơn, điều này cho thấy rằng Mặt Trời đang ở vào thời kỳ hoạt động rất mạnh.

+ Bão từ là kết quả của quá trình hoạt động của mặt trời. Ngoài photon (ánh sáng) mặt trời còn phát ra vô số hạt tích điện như proton, hạt nhân heli (hạt α) và electron. Những hạt đó tạo thành gió mặt trời. Chúng bay đến vùng lân cận của Trái đất và tác dụng tương hỗ với từ trường Trái đất - tức là địa từ trường (ĐTT).

+ Hành tinh của chúng ta là một nam châm khổng lồ mà cực Nam và cực Bắc nằm ở gần hai địa cực. Càng gần các cực thì ĐTT càng mạnh. Các hạt tích điện bay từ Mặt trời, chịu ảnh hưởng của ĐTT, chạy xoay quanh đường sức của nó theo hình xoắn ốc và tạo thành lớp bức xạ nằm phía trên tầng khí quyển.

+ Nơi gần cực có các đường sức tiếp cận với Trái đất, các hạt tích điện tiếp xúc với bề mặt khí quyển, ion hóa lớp trên của nó nhờ đó mà chúng ta được chiêm ngưỡng hiện tượng phát quang ở vùng cực.

+ Khi Mặt trời tăng tần suất hoạt động thì các hạt tích điện tác dụng tương hỗ với ĐTT lớn hơn bình thường, sự cân bằng của ĐTT bị phá vỡ và cường độ của từ trường tăng lên. Hiện tượng cường độ của ĐTT đạt giá trị cao và gây tác động kéo dài thì gọi là hiện tượng bão từ.

+ Công tác dự báo và đo đạc bão từ dựa trên cơ sở quan sát các vết đen của Mặt trời. Vết đen là hố lớn hình phễu trên bề mặt Mặt trời nóng bỏng mà các hạt của plasma bay từ độ sâu thẳm và có nhiệt độ cao sẽ bay qua đó tớ Trái đất. Các loại hạt tích điện mất khoảng 1 đến 2 ngày mới tới được hành tinh của chúng và sẽ tác động đến ĐTT. Vết đen xuất hiện rồi lại biến mất. Đặc biệt có những vết lớn tồn tại hàng tháng. Nguồn phát ra các hạt tích điện có thể là một nhóm các vết đen nhỏ có thời gian tồn tại rất ngắn. Vì vậy, đối với loại này, dự báo lâu dài là không chính xác bởi có những vết đen mà lúc các nhà quan sát phát hiện ra lại có thể đã không còn tồn tại nữa.

+ Trên thế giới có nhiều cơ sở nghiên cứu tiến hành quan sát Mặt trời: Mỹ có NASA, Nga có Trường Đại học về Mặt Trời, Trường Đại học Địa từ và sóng bức xạ. Tại các cơ sở đó, người ta đo liên tục cái gọi là "địa từ đồ', trong đó biểu thị cường độ của ĐTT. Căn cứ vào kết quả đo đạc, người ta sẽ đánh giá mức độ tác động có liên quan đến bão từ.

+ Liệu ĐTT có tác động đến con người ? Đối với nhiều người thì víệc trả lời cho câu hỏi trên không hẳn là có. Có người cho nó là điều tưởng tượng vô lý. Số khác lại thường xuyên kêu đau đầu trong thời gian có bão từ. Nhưng không ai có thể phủ định việc chim có thể bị lạc hướng trong khi bay chuyển vùng do bị bão từ chi phối vì chúng định vị bằng từ trường.

+ Mặc dù mặt trời đang đi đến giai đoạn yên tĩnh nhưng các trận bão từ vẫn có thể xảy ra. Chu kỳ hoạt động của mặt trời là 11 năm và đã đạt đỉnh vào năm 2001 - khi mặt trời hoạt động cực mạnh và có rất nhiều bão từ. Dự báo tới năm 2007 mặt trời mới yên tĩnh hoàn toàn. Tính tới 11g30 (ngày 22/9), dữ liệu từ 4 đài địa từ ở Phú Thuỵ (Gia Lâm), Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu) cho thấy hoạt động của mặt trời hoàn toàn yên tĩnh, chưa có dấu hiệu bùng nổ sắc cầu mặt trời. Tuy vậy, theo kinh nghiệm thì trước các trận bão từ lớn, hoạt động của mặt trời thường cực kỳ yên tĩnh như thế.

+ Bùng nổ sắc cầu mặt trời là những vụ nổ lớn nhất trong Thái dương hệ và có thể giải phóng lực của nhiều quả bom hạt nhân 1 tỷ mega tấn. Bùng nổ sắc cầu giải phóng các chùm plasma khổng lồ trung hoà về điện của các hạt tích điện. Trên đường đi tới trái đất, các chùm này sẽ bao trùm lên trái đất, tác động với từ quyển trái đất, tạo ra hệ dòng điện tròn xung quanh trái đấtvà nó cũng gây ra bão từ.

@ Ảnh hưởng của bão từ tới sức khỏe con người:

+ Thời kỳ có bão từ là thời kỳ rất nguy hiểm cho người có bệnh tim mạch bởi vì từ trường ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động của các cơ quan trong hệ tuần hoàn của con người. Ngoài ra từ trường của Trái Đất cũng giúp cho một số loài động vật thực hiện một số chức năng sống của chúng như là chức năng định hướng do đó bão từ cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sự sống của các loài này.

+ Đã nhiều năm nay, các nhà bác học quan tâm đến vấn đề ảnh hưởng của bão từ đối với sức khỏe con người. Một số chuyên gia cho rằng đây là vấn đề rất nghiêm trọng, ngược lại, một số người khác không đồng tình với ý kiến ấy. Tiến sĩ khoa học y khoa Yuri Gurfinkel, giám đốc một trong những bệnh viện lớn ở Moskva, đã nghiên cứu rất nghiêm túc vấn đề này trong vòng hơn 15 năm nay. Ông đã thống kê được rằng, trong những ngày có bão từ, số lượng bệnh nhân tim mạch tăng lên 25-30%. Trong thực tế con số này lớn hơn rất nhiều. Ông chỉ ghi chép tỉ mỉ những trường hợp xác định ngày mắc bệnh một cách chính xác. Sau đó, ông chuyển các số liệu ấy cho Viện địa từ, tầng iôn và tán xạ sóng radio thuộc viện Hàn lâm khoa học Nga. Ở đó người ta tiến hành đối chiếu các số liệu này với các chỉ số hoạt tính địa từ. Hóa ra, trước hoặc trong những ngày có bão từ, bệnh nhân nhiều gấp đôi so với những ngày đẹp trời. Và đây không chỉ là các ghi chép của ông. Các đồng nghiệp ở nhiều thành phố khác cũng có những kết quả quan sát tương tự.

+ Các cơn bão từ khác nhau về tần suất và cường độ. Hơi ngược đời một chút, nhưng ông nhận thấy rằng những cơn bão từ nhỏ nhiều khi lại tác động mạnh đến sức khỏe con người, hơn là những cơn bão từ lớn. Và bão từ đột ngột thường nguy hiểm hơn những cơn bão từ kéo đến dần dần. Nói chung, khoảng 85% bão từ ảnh hưởng đến cơ thể người theo từng mức độ khác nhau.

+ Luồng hạt bẩn sinh ra do các vụ nổ trên mặt trời sẽ xuống đến mặt đất sau khoảng 3 ngày đêm. Luồng này có ảnh hưởng xấu đến sự sống trên mặt đất. Tìm ra cơ chế ảnh hưởng này là nhiệm vụ chính của ông. Người ta đã lấy máu làm đối tượng nghiên cứu. Mấy năm gần đây xuất hiện giả thiết cho rằng tác nhân đầu tiên, đầu mối tiếp nhận tác động từ đối với cơ thể người là huyết cầu tố — chất protit có trong cấu tạo của tế bào máu. Trong thành phần của chất này có sắt. Trong cơ thể người liều lượng sắt là khoảng 4,5-5 gr, một nửa lượng này nằm trong các phân tử hồng cầu. Có lẽ vì vậy mà máu chính là yếu tố đầu tiên phản ứng trước sự thay đổi của luồng từ.

+ Trước hết, các nhà khoa học nghiên cứu các mao mạch trong hệ thống tuần hoàn máu. Những hồng cầu lưu chuyển trong các mao mạch này, đưa ô xy đi nuôi các mô, rồi cũng các hồng cầu này nhận thán khí và các sản phẩm trao đổi chất. Các nhà khoa học ở Viện thần kinh học nghiên cứu đặc tính lưu biến của máu, tức là tính lưu thông của máu, ở các bệnh nhân bị đột quỵ. Họ nhận thấy rằng trong khoảng thời gian một hai ngày trước khi có bão từ thì đặc tính lưu biến này bị biến đổi. Máu lưu thông chậm hẳn lại. Đỉnh điểm của hiện tượng này thể hiện trong ngày bão từ xuất hiện.

+ Nhà bác học đã sử dụng một thiết bị chuyên dụng để nghiên cứu máu của người bệnh một cách an toàn. Với sự hỗ trợ của máy này, họ khẳng định được rằng trong những ngày bão từ, quá trình trao đổi ô xy và các chất thải bị chậm lại. Trong mao mạch người khỏe mạnh máu lưu chuyển nhanh và đều đặn. Một ngày đêm sau khi bão từ xuất hiện, hồng cầu thường dính lại với nhau. Điều đó có nghĩa là chúng không thể dễ dàng chuyển ôxy cho các mô, và lúc đó hiện tượng thiếu ô xy bắt đầu. Đối với các bệnh nhân thiếu máu cục bộ thì thông thường các cơ tim đã không được cung cấp ô xy một cách đầy đủ. Có thể nói một cách hình tượng rằng trong những ngày bão từ, họ bị “hiệu ứng kép” thiếu ô xy, điều đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.

+ Để phòng ngừa các hồng cầu dính kết, các nhà khoa học khuyến cáo người bệnh nên dùng thuốc aspirin. Trong thời gian bão từ, liều lượng hiệu quả nhất là 200mg. Bằng việc theo dõi bệnh nhân trong suốt ngày đêm, họ đã ghi nhận sự rối loạn hoạt động của tim, đồng thời cùng việc đó họ cũng ghi lại các theo dõi về quá trình bão từ. Kết quả cho thấy rằng khi bão từ đạt mức tối đa thì tần suất co bóp tim của bệnh nhân tăng cao, trong một số trường hợp huyết áp của họ cũng bị tăng lên. Và rốt cục là xảy ra điều tệ hại nhất. Khi bão từ mạnh nhất, máy ghi nhận sự rối loạn nhịp tim khiến các tâm thất rung, cơ bóp nhanh, loạn nhịp, không đồng đều. Phản ứng như vậy dễ gây ra tử vong đột ngột cho những người bị bệnh tim mạch. Trong thực tế, ngay cả đối với những người khỏe mạnh, bão từ cũng gây ảnh hưởng trên toàn bộ các bộ hệ thống cơ thể: các cảm xúc, hoạt động thể lực và hoạt động trí tuệ…đều suy giảm. Tất nhiên, người khỏe mạnh thì sức đề kháng tốt hơn và quá trình hồi phục cũng nhanh chóng hơn so với người bệnh.

+ Ông Yuri Gurfinkel kết luận, ông đã theo dõi chừng 10 000 bệnh nhân. Trong số đó có khoảng 5000 người đã bị nhồi máu cơ tim.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bão từ 1  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ hai, 4 Tháng một 2010, 10:49 AM
 

BÃO TỪ (MAGNETIC STORM)

bao tu

+ Các yếu tố của từ trường Trái đất biến đổi hầu như cùng một lúc trên quy mô tòan cầu gọi là bão từ.


+ Bão từ hay còn gọi là bão địa từ trên Trái Đất là những thời kỳ mà kim la bàn dao động mạnh. Nguyên nhân gây ra bão từ là do dòng hạt mang điện phóng ra từ các vụ bùng nổ trên Mặt Trời tác dụng lên các đường cảm ứng từ của Trái Đất. Trên một số hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, nhất là các hành tinh có từ quyển (như Sao Thổ) cũng có hiện tượng tương tự.


+ Các quá trình được miêu tả như sau:

1.Các dòng hạt mang điện phóng ra từ Mặt Trời sinh ra một từ trường, có độ lớn vào khoảng 6.10-9tesla.

2.Từ trường này ép lên từ trường Trái Đất làm cho từ trường nơi bị ép tăng lên.

3.Khi từ trường Trái Đất tăng lên, từ thông sẽ biến thiên và sinh ra một dòng điện cảm ứng chống lại sự tăng từ trường của Trái Đất.

4.Dòng điện cảm ứng này có thể đạt cường độ hàng triệu ampe chuyển động vòng quanh Trái Đất và gây ra một từ trường rất lớn tác dụng lên từ trường Trái Đất.

5.Hiện tượng này tiếp diễn làm cho từ trường Trái Đất liên tục biến thiên và kim la bàn dao động mạnh.

+ Ảnh hưởng của bão từ: gây ra rối loạn trong liên lạc vô tuyến hay thậm chí gây mất điện.


+ Công tác dự báo và đo đạc bão từ dựa trên cơ sở quan sát các vết đen của Mặt trời. Vết đen là hố lớn hình phễu trên bề mặt Mặt trời nóng bỏng mà các hạt của plasma bay từ độ sâu thẳm và có nhiệt độ cao sẽ bay qua đó tớ Trái đất. Các loại hạt tích điện mất khoảng 1 đến 2 ngày mới tới được hành tinh của chúng và sẽ tác động đến ĐTT. Vết đen xuất hiện rồi lại biến mất. Đặc biệt có những vết lớn tồn tại hàng tháng. Nguồn phát ra các hạt tích điện có thể là một nhóm các vết đen nhỏ có thời gian tồn tại rất ngắn. Vì vậy, đối với loại này, dự báo lâu dài là không chính xác bởi có những vết đen mà lúc các nhà quan sát phát hiện ra lại có thể đã không còn tồn tại nữa.

@ Ảnh hưởng của bão từ tới sức khỏe con người:

+ Thời kỳ có bão từ là thời kỳ rất nguy hiểm cho người có bệnh tim mạch bởi vì từ trường ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động của các cơ quan trong hệ tuần hoàn của con người. Ngoài ra từ trường của Trái Đất cũng giúp cho một số loài động vật thực hiện một số chức năng sống của chúng như là chức năng định hướng do đó bão từ cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sự sống của các loài này.


+ Đã nhiều năm nay, các nhà bác học quan tâm đến vấn đề ảnh hưởng của bão từ đối với sức khỏe con người. Một số chuyên gia cho rằng đây là vấn đề rất nghiêm trọng, ngược lại, một số người khác không đồng tình với ý kiến ấy. Tiến sĩ khoa học y khoa Yuri Gurfinkel, giám đốc một trong những bệnh viện lớn ở Moskva, đã nghiên cứu rất nghiêm túc vấn đề này trong vòng hơn 15 năm nay. Ông đã thống kê được rằng, trong những ngày có bão từ, số lượng bệnh nhân tim mạch tăng lên 25-30%. Trong thực tế con số này lớn hơn rất nhiều. Ông chỉ ghi chép tỉ mỉ những trường hợp xác định ngày mắc bệnh một cách chính xác. Sau đó, ông chuyển các số liệu ấy cho Viện địa từ, tầng iôn và tán xạ sóng radio thuộc viện Hàn lâm khoa học Nga. Ở đó người ta tiến hành đối chiếu các số liệu này với các chỉ số hoạt tính địa từ. Hóa ra, trước hoặc trong những ngày có bão từ, bệnh nhân nhiều gấp đôi so với những ngày đẹp trời. Và đây không chỉ là các ghi chép của ông. Các đồng nghiệp ở nhiều thành phố khác cũng có những kết quả quan sát tương tự.


+ Các cơn bão từ khác nhau về tần suất và cường độ. Hơi ngược đời một chút, nhưng ông nhận thấy rằng những cơn bão từ nhỏ nhiều khi lại tác động mạnh đến sức khỏe con người, hơn là những cơn bão từ lớn. Và bão từ đột ngột thường nguy hiểm hơn những cơn bão từ kéo đến dần dần. Nói chung, khoảng 85% bão từ ảnh hưởng đến cơ thể người theo từng mức độ khác nhau.


+ Trước hết, các nhà khoa học nghiên cứu các mao mạch trong hệ thống tuần hoàn máu. Những hồng cầu lưu chuyển trong các mao mạch này, đưa ô xy đi nuôi các mô, rồi cũng các hồng cầu này nhận thán khí và các sản phẩm trao đổi chất. Các nhà khoa học ở Viện thần kinh học nghiên cứu đặc tính lưu biến của máu, tức là tính lưu thông của máu, ở các bệnh nhân bị đột quỵ. Họ nhận thấy rằng trong khoảng thời gian một hai ngày trước khi có bão từ thì đặc tính lưu biến này bị biến đổi. Máu lưu thông chậm hẳn lại. Đỉnh điểm của hiện tượng này thể hiện trong ngày bão từ xuất hiện.


+ Nhà bác học đã sử dụng một thiết bị chuyên dụng để nghiên cứu máu của người bệnh một cách an toàn. Với sự hỗ trợ của máy này, họ khẳng định được rằng trong những ngày bão từ, quá trình trao đổi ô xy và các chất thải bị chậm lại. Trong mao mạch người khỏe mạnh máu lưu chuyển nhanh và đều đặn. Một ngày đêm sau khi bão từ xuất hiện, hồng cầu thường dính lại với nhau. Điều đó có nghĩa là chúng không thể dễ dàng chuyển ôxy cho các mô, và lúc đó hiện tượng thiếu ô xy bắt đầu. Đối với các bệnh nhân thiếu máu cục bộ thì thông thường các cơ tim đã không được cung cấp ô xy một cách đầy đủ. Có thể nói một cách hình tượng rằng trong những ngày bão từ, họ bị “hiệu ứng kép” thiếu ô xy, điều đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.


+ Để phòng ngừa các hồng cầu dính kết, các nhà khoa học khuyến cáo người bệnh nên dùng thuốc aspirin. Trong thời gian bão từ, liều lượng hiệu quả nhất là 200mg. Bằng việc theo dõi bệnh nhân trong suốt ngày đêm, họ đã ghi nhận sự rối loạn hoạt động của tim, đồng thời cùng việc đó họ cũng ghi lại các theo dõi về quá trình bão từ. Kết quả cho thấy rằng khi bão từ đạt mức tối đa thì tần suất co bóp tim của bệnh nhân tăng cao, trong một số trường hợp huyết áp của họ cũng bị tăng lên. Và rốt cục là xảy ra điều tệ hại nhất. Khi bão từ mạnh nhất, máy ghi nhận sự rối loạn nhịp tim khiến các tâm thất rung, cơ bóp nhanh, loạn nhịp, không đồng đều. Phản ứng như vậy dễ gây ra tử vong đột ngột cho những người bị bệnh tim mạch. Trong thực tế, ngay cả đối với những người khỏe mạnh, bão từ cũng gây ảnh hưởng trên toàn bộ các bộ hệ thống cơ thể: các cảm xúc, hoạt động thể lực và hoạt động trí tuệ…đều suy giảm. Tất nhiên, người khỏe mạnh thì sức đề kháng tốt hơn và quá trình hồi phục cũng nhanh chóng hơn so với người bệnh.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Bão từ.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Đơn vị áp suất thường dùng trong khí tượng, bằng 105 Pa, gần bằng 1 atmôtphe. Ước: .

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bar  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

     Đại lượng không thay đổi đối với một phép biến đổi nào đó. Ví dụ gia tốc là bất biến đối với các hệ quy chiếu quán tính, vì nó không đổi khi ta thay hệ quy chiếu quán tính này bằng hệ quy chiếu quán tính khác.

      Nếu một phương trình biểu diễn một định luật vật lý không đổi dạng trong phép biến đổi đang xét thì người ta cũng nói rằng định luật là bất biến đổi với phép biến đổi ấy. Ví dụ: Định luật II của Niutơn là bất biến đối với các hệ quy chiếu quán tính (nó giữ nguyên dạng  khi đổi hệ).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bất biến  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Sự tạo thành hơi từ mặt thoáng của chất lỏng, xảy ra ở nhiệt độ bất kỳ dưới nhiệt độ sôi. Nếu chất lỏng đựng trong bình kín thì nó bay hơi cho đến khi áp suất hơi bằng một giá trị xác định cho từng nhiệt độ, gọi là áp suất hơi bão hòa.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bay hơi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đơn vị không thứ nguyên của tỉ số hai đại lượng cùng loại P1/P2, ký hiệu B. Tỉ số 10 ứng với 1 ben, tỉ số 10x ứng với x ben, nghĩa là: x(B) = log P1/P2.

Thường dùng ước đexiben, ký hiệu dB; 1 dS = 0,1 B dùng trong Âm học, Điện học.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: ben(B)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Sự thay đổi kích thước và hình dạng của các vật rắn khi chịu tác dụng của các lực. Nếu sau khi lực ngưng tác dụng, vật lấy lại kích thước và hình dạng ban đầu thì biến dạng gọi là biến dạng đàn hồi; nếu vật còn biến dạng, thì ta có biến dạng còn dư, ha biến dạng dẻo.

Có nhiều loại biến dạng: căng, nén, lệch, uốn, xoắn…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến dạng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

 Điện trở mà giá trị có thể thay đổi.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến trở  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Sự biến đổi một đặc trưng (biên độ, tần số, hoặc pha) của một sóng điện từ cao tần (sóng mang của vô tuyến truyền thanh chẳng hạn) theo một sóng tín hiệu cần truyền đi (sóng âm tần của tiếng nói, nhạc. Trong hình 10, a là sóng mang; b là sóng tín hiệu; c là sóng mang đã biến điệu theo biên độ (điều biên): tần số không thay đổi, biên độ biến đổi theo sóng tín hiệu; d là sóng mang đã biến điệu theo tần số (điều tần): biên độ không đổi, tần số biến đổi theo sóng tín hiệu.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến điệu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Giá trị lớn nhất, về trị số tuyệt đối, mà một đại lượng dao động điều hòa đạt được. Nếu biểu thức của dao động ấy là x = asin($$\omega.t +\phi) thì biên độ là a.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biên độ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Sự biến đổi của một chất từ trạng thái này (răn, hoặc lỏng, hoặc khí) sang trạng thái khác. Ví dụ: sự nóng chảy, sự hóa hơi… Còn gọi là biến đổi pha hay chuyển pha, nhưng chuyển pha rộng hơn, vì cũng một trạng thái rắn chẳng hạn có thể gồm hai pha khác nhau như sắt từ và thuận từ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến đổi trạng thái  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bình có vỏ cách nhiệt để làm giảm tối đa sự trao đổi nhiệt giữa chất đựng trong bình và môi trường ngoài. Nhờ vậy mà có thể giữ nước sôi nóng lâu (phích nước nóng) hoặc giữ nước đá lâu tan (phích nước đá). Vỏ bình có hai thành bằng thủy tinh dẫn nhiệt kém, nếu mạ bạc thì bức xạ rất ít. Đối lưu cũng không xảy ra trong chân không. Nhờ vậy mà sự truyền nhiệt rất hạn chế.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bình cách nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bộ phận của máy nhiệt ở đó hơi tỏa nhiệt và ngưng tụ thành chất lỏng. Ở máy làm lạnh thì bộ phận này không có dạng bình mà có dạng ống uốn dích dắc để dễ tỏa nhiệt (đặt phía sau tủ lạnh).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bình ngưng hơi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Những bình có dạng bất kỳ nối với nhau ở phần dưới. Nếu chứa cùng một chất lỏng thì mặt thoáng ở các bình ở cùng một độ cao. Nếu chứa hai chất lỏng khác nhau thì độ cao các mặt thoáng tính từ mặt phân cách h1 và h2, tỷ lệ nghịch với các khối lượng riêng r1r2: r1h1 = r2h2 (H. 11).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bình thông nhau  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bộ phận trong các động cơ đốt trong, tạo nên hỗn hợp không khí và xăng. Gồm có bầu chứa xăng A có phao B để giữ mực xăng luôn ở ngang đầu kim phun C (H. 12). Không khí đi tới chỗ thắt lại của ống D thì có áp suất giảm, xăng bị hút lên và phân tán thành giọt nhỏ hòa lẫn với không khí thành hỗn hợp đi vào xi lanh.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bộ chế hòa khí  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Dụng cụ để hút, đẩy, nén chất lỏng (hoặc khí). Hình 13 vẽ bơm hút – đẩy. Khi pittong A đi lên, van V mở, chất lỏng bị hút vào thân bơm do tác dụng của áp suất khí quyển. Khi pittông đi xuống, van V đóng, pittong đẩy chất lỏng lách qua van W đi lên. Hình 14 vẽ bơm ly tâm. Khi các cánh A quay, chất lỏng trong thân bơm cũng quay và do lực ly tâm tác dụng, chuyển từ tâm ra mép ngoài rồi thoát ra theo ống tiếp tuyến B.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bơm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

     Bom nguyên tử. A là chữ bắt đầu của từ atom (nguyên tử).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bom A  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bơm chân không là dụng cụ để rút chất khí ra khỏi một mình, làm áp suất trong đó giảm xuống mốt giá trị rất nhỏ. Bơm chân không có nhiều loại, loại dùng trong nghiên cứu khoa học có thể hút khí tới áp suất 10-11 mmHg.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Bơm chân không  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bom khinh khí. H là chữ bắt đầu của từ Hiđro (khinh khí, là từ cổ để trỏ hiđro).

      Bom khinh khí dựa vào phản ứng tổng hợp các đồng vị nặng của hiđro, đơtêri hoặc triti. Phản ứng này chỉ xảy ra ở nhiệt độ hàng trăm triệu độ, nên còn gọi là phản ứng nhiệt hạch. Bom khinh khí có “ngòi nổ” là một quả bom nguyên tử để tạo ra nhiệt độ cần thiết.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bom H  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Vũ khí có sức tàn phá ghê gớm, sử dụng năng lượng được giải phóng trong một số phản ứng hạt nhân. Có hai loại bom hạt nhân chính: bom nguyên tử (bom A) và bom khinh khí (bom H). Bom nguyên tử sử dụng phản ứng phân hạch của các chất urani 235 hoặc plutoni 239. Bom chứa nhiều khối urani 235 (hoặc plutoni 239) ở cách nhau, mỗi khối có khối lượng nhỏ hơn khối lượng tới hạn. Nếu làm chập các khối lại thì vượt khối lượng tới hạn, phản ứng phân hạch dây chuyền xảy ra và bom nổ.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bom hạt nhân  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Phần không gian ở sau một vật chắn sáng chứa những điểm không nhận được tia sáng nào từ nguồn sáng. Nếu nguồn sáng không phải là một điểm mà có kích thước thì ngoài bóng tối còn có bóng nửa tối là phần không gian ở sau vật chắn sáng chứa những điểm chỉ nhận được những tia sáng đi từ một phần của nguồn sáng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bóng tối  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Thuật ngữ chung để trỏ các sóng điện từ và các tia phóng xạ. Bức xạ (sóng) điện từ bao gồm: bức xạ vô tuyến điện, bức xạ hồng ngoại, bức xạ (ánh sáng) nhìn thấy, bức xạ tử ngoại, bức xạ X, bức xạ gamma. Các tia phóng xạ bao gồm tia anpha, tia bêta, tia gamma. Do các hạt sơ cấp có lưỡng tính sóng – hạt nên bức xạ điện từ vừa là sóng điện từ vừa là các tia phôtôn. Ví dụ: gọi tia gamma là bức xạ gamma cũng được.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bức xạ điện từ của một vật ở trạng thái cân bằng nhiệt động (có nhiệt độ không đổi). Việc nghiên cứu bức xạ nhiệt ở cuối thế kỷ 19 đã dẫn tới khái niệm lượng tử ánh sáng. Theo nghĩa hẹp hơn, bức xạ nhiệt trỏ các sóng điện từ (chủ yếu là tia hồng ngoại) tải năng lượng từ nguồn nóng đến vật khác (theo đường thẳng).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

C.n. Tia tử ngoại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ tử ngoại  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Xem Ánh sáng đơn sắc.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ đơn sắc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

(tiếng Pháp bougie). Bộ phận đánh lửa trong động cơ đốt trong. Có hai mũi dẫn điện nối với nguồn điện, cách nhau một khe nhỏ. Khi hiệu điện thế đủ lớn thì dòng điện phóng qua khe dưới dạng tia lửa điện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bugi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Điểm có biên độ dao động lớn nhất trong sóng đứng. Trên hình 15, A, B, C là các bụng sóng, chúng cách nhau một nửa bước sóng, chúng cách nhau một nửa bước sóng. Nút sóng là điểm có biên độ dao động bé nhất hoặc bằng không. Trong hình, D, E, F là các nút sóng, cũng cách nhau nửa bước sóng. Bụng sóng cách nút sóng gần nhất một khoảng bằng một phần tư bước sóng. Trong sóng dọc (như sóng âm) thì bụng dao động lạinút áp suất (không khí có áp suất bình thường), và ngược lại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bụng sóng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất dao động đồng pha trên cùng một đường truyền sóng. Cũng là quãng đường sóng đi được trong một chu kỳ T. Bước sóng l liên hệ với chu kỳ và vận tốc truyền sóng c bằng hệ thức.

l = cT

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Nếu một hạt có khối lượng m thì bước sóng Cômtơn của nó là

l = ***/mc

      Trong đó ***hằng số Plăng rút gọn, c là vận tốc ánh sáng trong chân không.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng Cômtơn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

          Theo thuyết của nhà vật lý học Pháp Đơ-Brơi. (De Broglie 1892 - 1987) các hạt cũng có tính chất sóng. Kèm theo mỗi hạt có động lượng p là một sóng có bước sóng l = h/p, gọi là bước sóng Đơ-brơi (h là hằng số Plăng).

Bản chất vật lý của các sóng Đơ-brơi còn chưa rõ nhưng thí nghiệm đã khẳng định thuyết của ông. Các “sóng êlectrôn” cũng bị nhiễu xạ như các sóng điện từ. Riêng đối với hạt phôtôn thì sóng Đơ-Brơi chính là sóng điện từ có bước sóng l = h/p, p là động lượng của phôtôn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng Đơ-brơi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 


Theo thuyết của nhà vật lý học Pháp Đơ-Brơi. (De Broglie 1892 - 1987) các hạt cũng có tính chất sóng. Kèm theo mỗi hạt có động lượng p là một sóng có bước sóng
l = h/p, gọi là bước sóng Đơ-brơi (h là hằng số Plăng).


Bản chất vật lý của các sóng Đơ-brơi còn chưa rõ nhưng thí nghiệm đã khẳng định thuyết của ông. Các “sóng êlectrôn” cũng bị nhiễu xạ như các sóng điện từ. Riêng đối với hạt phôtôn thì sóng Đơ-Brơi chính là sóng điện từ có bước sóng l = h/p, p là động lượng của phôtôn.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng Đơ-brơi.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Buồng chứa một chất lỏng ở trạng thái chậm sôi dùng để ghi vết của các hạt sơ cấp tích điện bằng một chuỗi các bọt hơi sinh ra dọc đường đi của hạt. Dụng cụ này cho ảnh rõ rệt hơn buồng Uynxơn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: buồng bọt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

          Dụng cụ để quan sát quỹ đạo các hạt sơ cấp tích điện. Gồm một buồng hỗn hợp một chất khí (heli, nitơ hay agon) và hơi của một chất lỏng (nước ha rượu etilic). Khi làm tăng thể tích của buồng thì hơi trở thành quá bão hòa và dễ dàng ngưng tụ quanh các ion do hạt tích điện gây ra; chuỗi các giọt nước này đánh dấu quỹ đạo của hạt.

Dụng cụ này do nhà bác học Mĩ Uynxơn (Wilson 1869 - 1959) chế tạo lần đầu năm 1912. Hiện nay được thay thế bằng các dụng cụ khác hoàn thiện hơn. X. Buồng bọt.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: buồng Uynxơn  

Trang:  1  2  3  4  5  (Tiếp theo)
Tất cả