Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang: (Trước)   1  ...  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  ...  40  (Tiếp theo)
  Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất oxi hóa mạnh, khử được ion hydro bám vào điện cực của pin, tránh cho pin khỏi bị phân cực. Ví dụ trong pin Lơclăngsê, mangan điôxýt (MnO2) là chất khử cực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất khử cực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất ở trạng thái trung gian giữa các trạng thái rắn và khí, gio61ngh chất rắn ở chỗ có thể tích nhất định và khó nén, nhưng lại giống chất khí ở chỗ không có hình dạng nhất định và khó nén, nhưng lại giống chất khí ở chỗ không có hình dạng nhất định và dễ chảy. Khoảng cách giữa các phân tử của chất lỏng vào cỡ kích thước của chính phân tử nên lực tương tác giữa các phân tử khá lớn. Vì vậy chất lỏng có cấu trúc “trật tự gần” (các phân tử sắp xếp có trật tự trong từng thể tích nhỏ) và có sức căng mặt ngoài.

Chất lỏng lý tưởng. Chất lỏng không có tính nhớt và chịu được mọi lực nén mà không giảm thể tích.

Chất lỏng thực bao giờ cũng có tính nhớt và khi chịu nén đủ lớn thì thể tích giảm đi một chút.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất lỏng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tên gọi chung của chất lỏng và chất khí

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ từ thẩm m nhỏ hơn đơn vị một chút. Ví dụ m (nước) = 0,99991. Các phân tử của chất nghịch từ không có momen từ riêng. Khi đặt trong từ trường ngoài, do hiện tượng cảm ứng điện từ, xuất hiện một từ trường yếu ngược chiều từ trường ngoài. Vì vậy chất nghịch từ không bị nam châm hút mà lại bị đẩy.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nghịch từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất dùng làm phim ảnh, giấy ảnh. Thường là muối bạc halogenua, khi chịu tác dụng của ánh sáng thì bạc kim loại kết tủa thành những chỗ đem trên phim.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nhạy sáng, chất cảm quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Để giải thích các hiện tượng nhiệt, một số nhà vật lý thế kỷ 16 giả thiết có một chất không có khối lượng, gọi là chất nhiệt, thấm vào các vật nhiều hay ít, làm cho các vật ấy nóng nhiều hay ít. Gải thiết sai lầm này mãi đến thế kỷ 19 mới bị loại bỏ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất phát ra ánh sáng trông thấy khi bị kích thích (nhận năng lượng của electron, hoặc của bức xạ tử ngoại). Nếu sau khi ngừng kích thích, sự phát quang còn tiếp tục trong một thời gian đáng kể (t > 10-6 giây) thì ta có chất lân quang.

Chất phát quang, nhất là chất lân quang, được dùng để làm màn đèn hình, màn tia X, đèn ống v.v.…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất phát quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất rắn ở trạng thái trong đó nó có thể tích và hình dạng xác định. Phải tác dụng lực lên chất rắn mới làm nó biến dạng. Biến dạng này có thể là đàn hồi, (mất đi sau khi lực ngoài thôi tác dụng), hoặc là dẻo (vẫn còn một phần sau khi lực ngoài thôi tác dụng). Biến dạng đàn hồi của vật rắn tuân theo định luật Húc.

Chất rắn có thể là chất kết tinh (có cấu trúc tinh thể), hoặc chất vô định hình.

Chất rắn tuyệt đối. Chất rắn hoàn toàn không biến dạng khi chịu lực; đây chỉ là mô hình lý tưởng, các chất rắn thực bao giờ cũng biến dạng khi chịu lực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất rắn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 09:17 PM
 

Chất sắt từ

1/ Định nghĩa:

Sắt từ là các chất có từ tính mạnh, hay khả năng hưởng ứng mạnh dưới tác dụng của từ trường ngoài, mà tiêu biểu là sắt (Fe), và tên gọi "sắt từ" được đặt cho nhóm các chất có tính chất từ giống với sắt. Các chất sắt từ có hành vi gần giống với các chất thuận từ ở đặc điểm hưởng ứng thuận theo từ trường ngoài. Tính sắt từ dùng để chỉ thuộc tính (từ tính mạnh) của các chất sắt từ.

Chất sắt từ là một trong những vật liệu được sử dụng sớm nhất trong lịch sử loài người, với việc sử dụng các đá nam châm làm la bàn hoặc làm các vật dụng hút sắt théptừ hơn 2000 năm trước, xuất phát là từ Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại.

2/ Các tính chất đặc trưng của chất sắc từ:

Các chất sắt từ như sắt (Fe), côban (Co), niken (Ni), gađôli (Gd)... là các chất sắt từ điển hình. Các chất này là các chất vốn có mômen từ nguyên tử lớn như sắt là 2,2 μB, Gd là 7 μB... và nhờ tương tác trao đổi giữa các mômen từ này, mà chúng định hướng song song với nhau theo từng vùng, còn gọi là các đômen từ tính. Mômen từ trong mỗi vùng đó gọi là từ độ tự phát - có nghĩa là các chất sắt từ có từ tính nội tại ngay khi không có từ trường ngoài. Đây là các nguồn gốc cơ bản tạo nên các tính chất của chất sắt từ.

Hình ảnh các đômen từ của màng CoIr chụp ở chế độ Fresnel trên kính hiển vi điện tử truyền qua.

a/Hiện tượng từ trễ: Là một đặc trưng dễ thấy nhất ở chất sắt từ. Khi từ hóa một khối chất sắt từ các mômen từ sẽ có xu hướng sắp xếp trật tự theo hướng từ trường ngoài do đó từ độ của mẫu tăng dần đến độ bão hòa khi từ trường đủ lớn (khi đó các mômen từ hoàn toàn song song với nhau). Khi ngắt từ trường hoặc khử từ theo chiều ngược, do sự liên kết giữa các mômen từ và các đômen từ, các mômen từ không lập tức bị quay trở lại trạng thái hỗn độn như các chất thuận từ mà còn giữ được từ độ ở giá trị khác không. Có nghĩa là đường cong đảo từ sẽ không khớp với đường cong từ hóa ban đầu, và nếu ta từ hóa và khử từ theo một chu trình kín của từ trường ngoài, ta sẽ có một đường cong kín gọi là đường cong từ trễ. Có nhiều cơ chế khác nhau để tạo ra hiện tượng trễ như cơ chế dịch chuyển vách, cơ chế quay mômen từ, cơ chế hãm sự phát triển của các mầm đảo từ... Và trên đường cong từ trễ, ta sẽ có các đại lượng đặc trưng của chất sắt từ như sau:

- Từ độ bão hòa: Là từ độ đạt được trong trạng thái bão hòa từ, có nghĩa là tất cả các mômen từ của chất sắt từ song song với nhau.

- Từ dư: Là giá trị từ độ khi từ trường được khử về 0.

- Lực kháng từ: Là từ trường ngoài cần thiết để khử mômen từ của mẫu về 0, hay là giá trị để từ độ đổi chiều. Đôi khi lực kháng từ còn được gọi là trường đảo từ.

-Từ thẩm: Là một tham số đặc trưng cho khả năng phản ứng của các chất từ tính dưới tác dụng của từ trường ngoài. Từ thẩm của các chất sắt từ có giá trị lớn hơn 1 rất nhiều, và phụ thuộc vào từ trường ngoài.

- Nhiệt độ Curie: Là nhiệt độ mà tại đó, chất bị mất từ tính. Ở dưới nhiệt độ Curie, chất ở trạng thái sắt từ, ở trên nhiệt độ Curie, chất sẽ mang tính chất của chất thuận từ. Nhiệt độ Curie là một tham số đặc trưng cho chất sắt từ, ví dụ như: Sắt: 1043 K; Côban: 1388 K; Niken: 627 K…

b/ Dị hướng từ tinh thể: Là năng lượng liên quan đến sự định hướng của các mômen từ và đối xứng tinh thể của vật liệu. Do tính dị hướng của cấu trúc tinh thể, sẽ có sự khác nhau về khả năng từ hóa khi ta từ hóa theo các phương khác nhau, dẫn đến việc vật liệu có phương dễ từ hóa, gọi là trục dễ (từ hóa) và phương khó từ hóa (gọi là trục khó). Năng lượng dị hướng từ tinh thể là năng lượng cần thiết để quay mômen từ trục khó sang trục dễ. Hằng số dị hướng từ tinh thể là các đại lượng đặc trưng cho các chất sắt từ.

3/ Tương tác trao đổi và đômen từ:

Tương tác trao đổi là tương tác được giả thiết theo lý thuyết sắt từ Heisenberg nhằm giải thích sự định hướng song song của các mômen từ trong vật liệu. Tương tác trao đổi có bản chất là tương tác tĩnh điện đặc biệt giữa các điện tử tạo ra sự định hướng song song của các spin khi các điện tử ở một khoảng cách đủ gần sao cho các hàm sóng của chúng phủ nhau để cực tiểu hóa năng lượng của hệ. Năng lượng tương tác trao đổi được cho bởi công thức:

với S1, S2 là các spin, J là tích phân trao đổi, cho bởi:

J mang giá trị dương khi các spin song song nhau và âm khi các spin phản song song. Ψ là hàm sóng của các điện tử.

Đômen từ: Nhờ có tương tác trao đổi, các mômen từ của chất sắt từ sắp xếp hoàn toàn song song với nhau, nhưng không phải trong toàn bộ vật thể mà trong từng vùng, gọi là các miền từ hóa, hay các đômen từ. Trong mỗi đômen, các mômen từ song song với nhau tạo nên từ độ tự phát của chất sắt từ, nhưng trong toàn vật thể ở trạng thái khử từ thì mômen từ của các đômen sẽ sắp xếp hỗn loạn nên tổng từ độ trong toàn khối vẫn bằng 0. Khi có từ trường ngoài, do các mômen từ có xu hướng bị quay theo từ trường nên sẽ dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc đômen như sự dịch chuyển vách đômen, sự thay đổi kích thước đômen, sự định hướng mômen từ.. tạo nên quá trình từ hóa phức tạp của chất sắt từ.

4/ Các loại vật liệu sắt từ:

Có nhiều cách khác nhau để phân chia các vật liệu sắt từ, nhưng cách thông dụng nhất vẫn là phân chia theo khả năng từ hóa và khử từ của vật liệu. Theo cách phân chia này sẽ có 2 nhóm vật liệu sắt từ chính:

Vật liệu từ cứng: Là các vật liệu sắt từ khó từ hóa và khó khử từ thường dùng cho các ứng dụng lưu trữ từ trường như nam châm vĩnh cửu, vật liệu ghi từ... Các vật liệu từ cứng điển hình là Nd2Fe14B, Sm2Co5, FePt…

Ứng dụng: dùng để chế tạo các nam châm vĩnh cửu hoặc được sử dụng làm vật liệu ghi từ trong các ổ đĩa cứng, các băng từ.

Nam châm đất hiếm NdFeB - vật liệu từ cứng điển hình.

Vật liệu từ mềm: Là các vật liệu sắt từ dễ từ hóa và dễ bị khử từ, thường dùng cho các ứng dụng hoạt động trong từ trường ngoài như lõi biến thế, nam châm điện, lõi dẫn từ, cảm biến từ trường... Các vật liệu từ mềm điển hình là sắt silic (FeSi), hợp kim permalloy NiFe...

Ứng dụng: lõi biến thế, lõi dẫn từ, cuộn cảm; nam châm điện; cuộn chặn, cảm biến đo từ trường…

5/ Ứng dụng của vật liệu sắt từ:

Có thể nói vật liệu sắt từ đang được nghiên cứu và ứng dụng hết sức rộng rãi trong khoa học, công nghiệp cũng như trong đời sống, từ các nam châm vĩnh cửu, đến các lõi biến thế, hay cao hơn là các ổ cứng máy tính, các đầu đọc ổ cứng... Một hiệu ứng khác của chất sắt từ là hiệu ứng từ nhiệt khổng lồ đang được nghiên cứu phát triển các thế hệ máy lạnh hoạt động bằng từ trường thay thế cho các máy lạnh truyền thống với ưu điểm không ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng và nhỏ gọn. Các hiệu ứng từ điện trở của các chất sắt từ cũng đang được khai thác để ra đời các linh kiện điện tử thế hệ mới gọi là spintronic, tức là các linh kiện hoạt động bằng cách điều khiển spin của điện tử...

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất sắc từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ từ thẩm rất lớn (cỡ trăm, nghìn). Trong chất sắt từ có những miền nhiễm từ tự nhiên (đômen sắt từ) có kích thước khoảng 10-4 – 10-3cm. Khi chưa có từ trường ngoài, các miền nhiễm từ sắp xếp hỗn độn nên mômen từ trường của chúng triệt tiêu nhau. Khi có từ trường ngoài B0 các miền nhiễm từ sắp xếp sao cho các momen từ cộng lại, sinh ra từ trường phụ B’ lớn hơn B0 rất nhiều. Khi B0 triệt tiêu thì chất sắt từ vẫn còn từ trường Bd gọi là cảm ứng từ dư. Từ trường này chỉ bị khử bởi một từ trường ngoài ngược chiều, đạt giá trị Bk gọi là cảm ứng khử từ.

Các chất sắt từ điển hình là sắt, coban, niken, gadolini … Chất sắt từ chỉ có tinh sắt từ tới một nhiệt độ cực đạ, xác định đối với từng chất, gọi là nhiệt độ Quyri (Curie) Tc. Ví dụ: Tc của sắt = 7700C.

Ứng dụng quan trọng nhất của chất sắt từ để làm nam châm điện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất sắt từ  

Trang: (Trước)   1  ...  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  ...  40  (Tiếp theo)
  Tất cả