Phần trình bày về thuật ngữ Vật lý


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z | Tất cả

Trang:  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  40  (Tiếp theo)
Tất cả

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 08:43 PM
 

Acquy là nguồn điện hoạt động dựa trên phản ứng hóa học thuận nghịch, tích trữ năng lượng dưới dạng hóa năng (lúc nạp), rồi cung cấp năng lượng ấy dưới dạng điện năng (lúc phóng điện).

Có nhiều loại acquy khác nhau, phổ biến nhất là acquy axit, acquy kiềm, acquy kín. Mỗi loại sau khi nạp điện có một suất điện động nhất định, ví dụ như đối với acquy axit là 2,1V.

Dung lượng của acquy là điện lượng mà nó phát ra sau khi nạp đến lúc suất điện động giảm đến mức thấp nhất cho phép. Dung lượng được tính ampe giờ, 1 ampe giờ (Ah) = 3600 Culông (C).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: acquy  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 08:45 PM
 

Acquy axit còn gọi là acquy chì, gồm những bản chì có lỗ nhúng trong dung dịch axit sunfuric. Những lỗ của cực dương được nhồi đầy chất Pb3O4, những lỗ cực âm được nhồi chất PbO. Khi nạp điện, PbO bị khử mất oxi thành chì Pb, còn cực dương xuất hiện chì ôxit PbO2. Khi phóng điện thì có các phản ứng hóa học ngược lại, và suất điện động giảm dần xuống 1,8V. Lúc đó, cần mang đi nạp điện, nến tiếp tục để cho acquy phóng điện thì sẽ làm hỏng acquy. Nếu biết cách bảo quản, sử dụng thì số lần nạp - phóng có thể tới vài trăm lần.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: acquy axit  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 08:45 PM
 

Acquy kiềm còn gọi là acquy sắt - niken, có cực dương làm bằng thép mạ niken nhồi niken hiđrôxit Ni(OH)3, cực âm làm bằng sắt xốp. Chất điện phân là dung dịch kiềm (KOH hay NaOH). Suất điện động của acquy là 1,3V. So với acquy axit cùng dung lượng thì acquy kiềm nhẹ hơn, ít phải bảo quản hơn.

Còn có loại acquy kiềm gọi là acquy cadimi - niken bì cực âm có nhồi thêm cadimi (nguyên tố hóa học thứ 48, kí hiệu Cd). Một loại khác là acquy bạc - kẽm cực dương bằng bạc, cực âm bằng kẽm ôxit.

Acquy kín là acquy kiềm rất nhỏ, đóng kín (dùng ngay cực làm vỏ bọc) dùng thay cho pin trong các đèn pin, dụng cụ điện tử.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: acquy kiềm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 07:21 PM
 

Âm mà tai ta nghe được là những sóng đàn hồi lan truyền trong các môi trường vật chất, có tần số từ 16 hec đến 20 kilôhec. Âm không truyền được trong chân không. Tai người cũng không nghe được các hạ âm có tần số nhỏ hơn 16 hec, và các siêu âm có tần số lớn hơn 20 kilôhec.

Tạp âm, như tiếng ồn, tiếng nổ… không có tần số xác định.

Nhạc âm, như tiếng hát, tiếng nhạc cụ… có tần số xác định.

Độ cao của âm là đặc trưng của âm do tần số quyết định. Những âm cao có tần số lớn; những âm trầm có tần số nhỏ. Âm nghe càng to nếu áp suất âm càng lớn, độ to của âm còn gọi là âm lượng. Hai âm có cùng độ cao và độ to, nếu do hai nhạc cụ khác nhau phát ra, thì tai nghe thấy khác nhau, ta nói rằng hai âm ấy có âm sắc khác nhau. Đó là vì tuy có cùng một tần số, tức là cùng chu kỳ, nhưng trong mỗi chu kỳ quy luật lao động của hai âm khác nhau.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: âm (âm thanh)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Ảnh của một vật thu vào phim hoặc kính ảnh trong đó những chỗ trắng trên vật thành ra đen và ngược lại. Ở âm bản của phim màu, các màu là màu phụ của màu trên vật (đỏ thành lục, và ngược lại, vàng thành lam, và ngược lại,…).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: âm bản  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Dụng cụ dùng để xác định độ ẩm của không khí. Có nhiều loại ẩm kế khác nhau. Ẩm kế tóc dựa vào tính chất của sợi tóc, dài ra khi độ ẩm tăng và co lại khi độ ẩm giảm. Ẩm kế Ôguyxtơ hay ẩm kế bay hơi gồm có hai nhiệt kế giống nhau. Bầu của một nhiệt kế bọc vải nhúng trong chén nước. Nước bị vải hút lên, bay hơi, làm cho nhiệt độ của nó thấp xuống. Căn cứ vào độ chênh lệch nhiệt độ giữa hai nhiệt kế, có thể suy ra độ ẩm tương đối của không khí.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: ẩm kế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

   Tần số từ 16 hec đến 20 kilôhec, là tần số của các âm mà tai người nghe được.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: âm tần  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Dụng cụ dùng để phát một âm có tần số (độ cao) chuẩn. Thường là một thanh thép đặc biệt uốn thành hình chữ U, gắn vào một cán đỡ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: âm thoa  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 
     Dụng cụ mắc nối tiếp trong mạch điện để đo cường độ dòng điện trong mạch đó. Ampe kế là một điện kế có mắc sơn. Tùy theo loại điện kế mà ampe kế thuộc các loại khác nhau: ampe kế từ điện (có khung quay) chỉ đo được dòng điện một chiều, ampe kế có sắt quay hay ampe kế nhiệt đo được cả dòng một chiều và dòng xoay chiều, v.v... Ampe kế có điện trở trong thật nhỏ để không ảnh hưởng đến dòng điện phải đo.
     Miliampe kế là ampe kế dùng để đo những dòng điện rất nhỏ cỡ miliampe.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Ampe kế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 
Đơn vị điện lượng, có trị số bằng điện lượng mà dòng điện 1ampe tải qua tiết diện ngang của dây dẫn trong 1 giờ.
Kí hiệu: Ah.
1 (Ah) = 3600 (C).
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Ampe.giờ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Thiết bị gồm một hay nhiều vật dẫn điện, dùng để phát hoặc thu sóng vô tuyến điện. Các vật này thường là những thanh hoặc dây kim loại, có kích thước và được sắp xếp phù hợp với tính chất và nhiệm vụ của máy. Ví dụ ăngten máy thu hình thường có nhiều thanh song song định hướng (gọi là chấn tử) để thu và khuếch đại tín hiệu (H. 5).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: ăngten  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

    Ảnh của một điểm A cho bởi một dụng cụ quang học Q. Quang cụ này biến chùm ánh sáng nón phát ra đi từ A thành một chùm ánh sáng khác, nếu chùm này (gọi là chùm ló) thực sự hội tụ tại một điểm A' thì A' gọi là ảnh thực của A (hình).

    Nếu chùm ló là phân kỳ, chỉ có các phần kéo dài của tia sáng trong chùm ấy hội tụ tại A' thì A' gọi là ảnh ảo (hinh).

    Ảnh thực có thể hứng được trên màn, ảnh ảo không hứng đựơc trên màn nhưng nếu đặt mắt đón chùm ló thì trong thấy ảnh (do đó cũng có thể chụp được bằng máy ảnh).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Ảnh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Mắt nhìn thấy một vật nếu vật ấy phát ra ánh sáng đập vào mắt. Ánh sáng nhìn thấy này (thực ra ta nhìn thấy vật chứ không nhìn thấy bản thân ánh sáng) là các sóng điện từ có bước sóng từ 0,4µm đến 0,75µm. Ánh sáng theo nghĩa rộng còn bao gồm cả những sóng điện từ mà mắt không nhìn thấy được, như ánh sáng (tia) từ ngoại , ánh sáng (tia) hồng ngoại…Cũng như mọi sóng điện từ ánh sáng lan truyền trong chân không với vận tốc c=300000 km/s.

      Vấn đề bản chất của ánh sáng được tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử Vật lý học(thuyết hạt và thuyết sóng). Trong  những điều kiện nhất định không thể coi ánh sáng là sóng, mà lại phải coi nó gồm các hạt (phôtôn). Ta nói rằng ánh sáng có lưỡng tính sóng - hạt.

Ánh sáng đơn sắc. Ánh sáng có bước sóng xác định. Gọi như vậy vì màu sắc của ánh sáng phụ thuộc vào bước l (hoặc tần số f = c/l). Màu đỏ, chẳng hạn, ứng với các bước sóng khoảng 0,75mm. Thực ra không thể tạo được ánh sáng tuyệt đối đơn sắc mà chỉ có thể tạo được ánh sáng có bước sóng nằm trong một khoảng nhỏ từ l + Dl đến l - Dl; Dl càng bé thì ánh sáng càng gần với ánh sáng đơn sắc.

Ánh sáng trắng. Ánh sáng gây ra cho con mắt cảm giác về màu như ánh sáng mặt trời – là tập hợp của rất nhiều bức xạ trong khoảng bước sóng nhìn thấy, gồm 7 màu quy ước (tím, chàm, lam, lục, vàng, da cam, đỏ). Hỗn hợp hai hoặc ba màu thích hợp cũng gây được cảm giác về ánh sáng trắng.

Ánh sáng phân cực. Sóng điện từ được đặc trưng bởi các vectơ điện trường clip_image002.gif và cảm ứng từ clip_image004.gif dao động trong mặt phẳng vuông góc với phương truyền. Nếu phương dao động là cố định thì ánh sáng được gọi là ánh sáng phân cực thẳng. Nếu phương dao động phân bố đều thì ánh sáng gọi là ánh sáng tự nhiên (không phân cực). Phần lớn các nguồn sáng phát ra gọi là ánh sáng tự nhiên. Ánh sáng mặt trời là ánh sáng tự nhiên.

 

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Ánh sáng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

     Iôn mang điện tích âm. Gọi như vậy vì khi dòng điện đi qua dung dịch điện phân, aniôn đi về phía anốt. Aniôn được ký hiệu bằng ký hiệu hóa học có thêm 1 hoặc 2 dấu trừ tùy theo nó mang 1 hay 2 điện tích nguyên tố.

     Ví dụ:SO4--là aniôn mang 2 điện tích nguyên tố âm.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: aniôn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

  1. Cực dương của nguồn điện.

 2. Điện cực của bình điện phân, đèn điện tử hoặc các thiết bị điện khác nối với cực dương của nguồn điện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: anốt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ để đo áp suất chất lỏng và khí. Có nhiều loại áp kế. Trong áp kế cột chất lỏng (H. 3), áp suất phải đo được xác định bằng trọng lượng của một cột chất lỏng có đáy bằng một đơn vị diện tích và chiều cao bằng độ chênh lệch mực chất lỏng trong hai nhánh của ống thủy tinh.

Áp kế hộp gồm có một hộp kim loại kín đã rút hết không khí. Mặt hộp M mỏng và có gợn để dễ biến dạng (H. 4); nó được giữ bằng lò xo L. Độ biến dạng của mặt tỉ lệ với độ thay đổi áp suất ở ngoài hộp, là áp suất cần đo.

Hình 4


Áp kế dùng để đo áp suất khí quyển gọi là khí áp kế.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp kế.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

  Lực hoặc thành phần của lực tác dụng vuông góc với mặt bị ép.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp lực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đại lượng có hướng của áp lực, có độ lớn bằng áp lực trên một đơn vị diện tích.

Đơn vị áp suất là paxcan, ký hiệu Pa hoặc N/m2


Người ta còn dùng các đơn vị áp suất khác như: atmôtphe, bar, milimét thủy ngân,…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Khi truyền trong một môi trường, sóng âm gây ra sự nén và giãn của môi trường, áp suất ở một điểm của môi trường dao động quanh vị trí tĩnh (khi không có âm). Biên độ, hay chính xác hơn, giá trị hiệu dụng của các dao động áp suất này gọi là áp suất âm ở điểm ấy. Cường độ của âm tỉ lệ với bình phương của áp suất âm.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất âm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Áp suất mà ánh sáng tác dụng lên vật được rọi sáng. Áp suất này rất bé, cỡ mPa, nên mãi đến năm 1899, nhà vật lý học Nga Lêbêđep mới đo được bằng thí nghiệm tinh vi. Mặt phản xạ hoàn toàn ánh sáng chịu áp suất gấp đôi mặt hấp thụ hoàn toàn ánh dáng. Áp suất của ánh sáng mặt trời làm cho sao chổi bao giờ cũng hướng ngược về phía có Mặt Trời.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất ánh sáng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Áp suất của hơi của một chất ở trạng thái cân bằng động với thể lỏng của chất ấy. Áp suất này chỉ phụ thuộc vào bản chất và nhiệt độ của chất hóa hơi.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất hơi bão hòa.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Áp suất do khí quyển của Trái Đất tác dụng vào mọi vật đặt trong khí quyển, gọi tắt là khí áp. Vì khí áp ở một điểm được xác định bởi trọng lượng của cột không khí có chiều cao bằng khoảng cách từ điểm ấy tới giới hạn trên của khí quyển, nên khí áp giảm theo độ cao và thường được đo bằng chiều cao của cột thủy ngân trong khí áp kế thủy ngân. Ở mặt biển, khí áp gần bằng 760 mm thủy ngân. Áp suất bằng 760 mm thủy ngân gọi là áp suất tiêu chuẩn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất khí quyển.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Áp suất mà một chất khí trong một hỗn hợp khí tạo ra khi một mình nó chiếm toàn bộ thể tích của hỗn hợp và ở cùng nhiệt độ như hỗn hợp .

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất riêng phần  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Áp suất do khối chất lỏng (hay khí) đứng yên tác dụng vào mỗi diện tích nguyên tố trong chất ấy, hoặc lên thành bình chứa. Áp suất tĩnh ở một điểm chỉ phụ thuộc vị trí của điểm ấy chứ không phụ thuộc phương của diện tích nguyên tố bao quanh điểm. Nó bằng trọng lượng của cột chất lỏng (khí) có chiều cao bằng khoảng cách thẳng đứng từ điểm ấy đến mặt thoáng và có tiết diện bằng một đơn vị điện tích. Nếu chất lỏng (khí) chuyển động thì có cả áp suất tĩnh và áp suất động, trường hợp này áp suất tĩnh là áp suất trên diện tích nguyên tố nằm song song với vận tốc chất lỏng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất tĩnh.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
      Áp suất của một hỗn hợp khí (không tương tác hóa học với nhau). Nó bằng tổng các áp suất riêng phân (Định luật Đantơn).
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất toàn phần  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Trong áp suất của chất lỏng chuyển động, áp suất động pđ – là phần áp suất mà chất lỏng gây ra do nó có vận tốc v. Nếu r là khối lượng riêng của chất lỏng thì:

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp suất động, áp suất vận tốc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Sự xuất hiện hiệu điện thế giữa hai mặt đối diện của một vài tinh thể khi làm biến dạng (nén hay căng) tinh thể theo phương vuông góc với các mặt. Ngược lại, nếu đặt một hiệu điện thế vào hai mặt của tinh thể áp điện thì tinh thể bị biến dạng. Điển hình của tinh thể áp điện là thạch anh (tiếng Anh quartz), có tần số dao động (co giãn) rất xác định, nên được dùng trong đồng hồ điện tử.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: áp điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Đơn vị áp suất bằng 101325 Pa, ký hiệu atm. Nó cũng bằng áp suất gây ra bởi một cột thủy ngân cao 760 mm trong những điều kiện xác định. Atmôtphe tiêu chuẩn lớn hơn atmôtphe kỹ thuật một chút. X. t. Áp suất khí quyển.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: atmotphe tiêu chuẩn, atmôtphe vật lý.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
        Đơn vị áp suất của bảng đơn vị hợp pháp, bằng 98100 Pa, ký hiệu at. Có thể gọi 1/10 at là mét cột nước.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: atmôtphe, atmotphe kỹ thuật  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một cực của tranzito (triôt bán dẫn), còn gọi là cực gốc.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: badơ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Hai vật dẫn đặt gần nhau, nhưng cách điện, hợp thành một tụ điện, mỗi vật là một bản cực. Bản cực thường là tấm, lá kim loại mỏng.

        Các điện cực của acquy có dạng bản mỏng nên cũng gọi là bản cực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bản (cực)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Bán kính quỹ đạo nhỏ nhất của êlectrôn trong nguyên tử hiđrô, tính theo mẫu nguyên tử Bo, bằng 5,292.10-11 m.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính Bo.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Bán kính chính khúc R ở một điểm M của một đường cong là bán kính của vòng tròn mật tiếp với đường cong ở điểm ấy. Vòng tròn mật tiếp là giới hạn của vòng tròn đi qua 3 điểm N, M, P khi N và P tiến tới M (H. 7).

        Nếu đường cong là một vòng tròn thì ở mọi điểm, bán kính của nó chính là bán kính chính khúc. Ở đoạn đường thẳng hoặc ở điểm uốn của đường cong, bán kính chính khúc vô cùng lớn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính chính khúc.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Nếu một vật rắn có khối lượng m và mômen quán tính I đối với một trục nào đó thì bán kính quán tính của vật đối với trục  ấy là khoảng cách l từ trục đến một chất điểm có cùng khối lượng m và mômen quán tính I: I = m.l2.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính quán tính, bán kính hồi chuyển  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Véctơ gốc là gốc tọa độ O và ngọn là điểm đang xét M gọi là bán kính vectơ của điểm M. Các hình chiếu của bán kính vectơ xuống ba trục tọa độ là các tọa độ của điểm M.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bán kính vectơ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Bản trong suốt có hai mặt là mặt phẳng song song, cách nhau một khoảng d, làm bằng chất có chiết suất khác với chiết suất của môi trường trong đó ta đặt bản (H. 6). Nếu n là chiết suất tỉ đối của bản đối với môi trường thì ảnh A’ của điểm A qua bản bị dịch chuyển một đoạn , gần bản hơn nếu n > 1.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bản mặt song song.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Bản có độ dày rất nhỏ, cỡ bước sóng ánh sáng. Các tia sáng phản xạ lên hai mặt của bản giao thoa với nhau, điều này giải thích hiện tượng các màng xà phòng, các lớp dầu hỏa trên mặt nước… có màu sắc cầu vồng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bản mỏng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Gồm có hai băng bằng kim loại khác nhau, có kích thước bằng nhau và hàn với nhau theo suốt chiều dài (H. 8). Khi nhiệt độ tăng, vì có hệ số nở khác nhau nên băng kép cong lại. Sự biến dạng này được ứng dụng để chế tạo máy điều nhiệt, rơle nhiệt… (Bình thường băng kép A tựa vào vít B và có dòng điện chạy, nếu nhiệt độ tăng quá mức đã định thì băng kép cong lên và ngắt mạch, nhiệt độ giảm thì băng kép lại đóng mạch).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: băng kép  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Băng nhựa có phủ một lớp chất sắt từ, dùng để ghi và phát âm. Qua micrô, âm thanh được biến đổi thành dòng điện âm tần, dòng điện này làm biến đổi từ trường của một nam châm điện (đầu từ). Băng từ đi sát vào rãnh của nam châm sẽ bị từ hóa và như vậy âm được ghi dưới dạng từ. Sự từ hóa này giữ được lâu và chỉ mất nếu bị xóa bởi một từ trường cao tần. Quá trình phát âm có các khâu ngược với ghi âm. Hình 9 là sơ đồ đầu tư ghi âm. Đi ngang qua nam châm 1, băng từ 2 bị từ hóa; các vùng nhiễm từ tự phát (đômen) lúc chưa ghi âm sắp xếp hỗn độn thì sắp xếp lại theo trật tự nhất định thể hiện âm cần ghi.

Nguyên tắc ghi âm trên đây cũng được áp dụng để ghi cả âm và hình lên băng từ hình, thường gọi là băng video. Vì có hai dải tần số khác nhau (âm và hình) nên máy video khá phức tạp, có 2 hoặc 4 đầu từ gắn vào một cái tang trống quay.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: băng từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Bánh xe có khối lượng lớn lắp vào trục động cơ (tĩnh tại) để điều hòa chuyển động quay của trục động cơ. Vì có quán tính lớn, vận tốc của bánh đà thay đổi chậm, nó thu được động năng trong kỳ phát động và cung cấp động năng trong các kỳ thụ động của động cơ, làm cho động cơ chạy đều. Động cơ lắp trên các xe không cần có bánh đà vì bản thân xe đó có khối lượng lớn, đủ để điều hòa chuyển động.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bánh đà  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Biến đổi đột ngột và có cường độ lớn của từ trường Trái Đất, liên quan đến hoạt động của Mặt Trời.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bão từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 10:58 PM
 

BÃO TỪ (MAGNETIC STORM)

+ Bão từ hay còn gọi là bão địa từ trên Trái Đất là những thời kỳ mà kim la bàn dao động mạnh. Nguyên nhân gây ra bão từ là do dòng hạt mang điện phóng ra từ các vụ bùng nổ trên Mặt Trời tác dụng lên các đường cảm ứng từ của Trái Đất. Trên một số hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, nhất là các hành tinh có từ quyển (như Sao Thổ) cũng có hiện tượng tương tự.

+ Các quá trình được miêu tả như sau:

1.Các dòng hạt mang điện phóng ra từ Mặt Trời sinh ra một từ trường, có độ lớn vào khoảng 6.10-9tesla.

2.Từ trường này ép lên từ trường Trái Đất làm cho từ trường nơi bị ép tăng lên.

3.Khi từ trường Trái Đất tăng lên, từ thông sẽ biến thiên và sinh ra một dòng điện cảm ứng chống lại sự tăng từ trường của Trái Đất.

4.Dòng điện cảm ứng này có thể đạt cường độ hàng triệu ampe chuyển động vòng quanh Trái Đất và gây ra một từ trường rất lớn tác dụng lên từ trường Trái Đất.

5.Hiện tượng này tiếp diễn làm cho từ trường Trái Đất liên tục biến thiên và kim la bàn dao động mạnh.

+ Nếu hướng của từ trường trong tầng điện ly hướng về phía Bắc, giống như hướng của từ trường Trái Đất, bão địa từ sẽ lướt qua hành tinh của chúng ta. Ngược lại, nếu từ trường hướng về phía Nam, ngược với hướng từ trường bảo vệ của Trái Đất, các cơn bão địa từ mạnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Trái Đất. Mặc dù khí quyển Trái Đất chặn được các dòng hạt năng lượng cao đến từ Mặt Trời này (gồm electronproton), song các hạt đó làm xáo trộn từ trường của hành tinh, cụ thể là từ quyển, có thể gây ra rối loạn trong liên lạc vô tuyến hay thậm chí gây mất điện.

+ Các vụ phun trào khí và nhiễm điện từ Mặt Trời được xếp theo 3 cấp: C là yếu, M là trung bình, X là mạnh. Tùy theo cấp cao hay thấp mà ảnh hưởng của nó lên từ trường Trái Đất gây ra bão từ nhiều hay ít. Bão từ được xếp theo cấp từ G1 đến G5, G5 là cấp mạnh nhất. Theo nhiều nghiên cứu thì hiện nay các cơn bão từ xuất hiện nhiều hơn và mạnh hơn, điều này cho thấy rằng Mặt Trời đang ở vào thời kỳ hoạt động rất mạnh.

+ Bão từ là kết quả của quá trình hoạt động của mặt trời. Ngoài photon (ánh sáng) mặt trời còn phát ra vô số hạt tích điện như proton, hạt nhân heli (hạt α) và electron. Những hạt đó tạo thành gió mặt trời. Chúng bay đến vùng lân cận của Trái đất và tác dụng tương hỗ với từ trường Trái đất - tức là địa từ trường (ĐTT).

+ Hành tinh của chúng ta là một nam châm khổng lồ mà cực Nam và cực Bắc nằm ở gần hai địa cực. Càng gần các cực thì ĐTT càng mạnh. Các hạt tích điện bay từ Mặt trời, chịu ảnh hưởng của ĐTT, chạy xoay quanh đường sức của nó theo hình xoắn ốc và tạo thành lớp bức xạ nằm phía trên tầng khí quyển.

+ Nơi gần cực có các đường sức tiếp cận với Trái đất, các hạt tích điện tiếp xúc với bề mặt khí quyển, ion hóa lớp trên của nó nhờ đó mà chúng ta được chiêm ngưỡng hiện tượng phát quang ở vùng cực.

+ Khi Mặt trời tăng tần suất hoạt động thì các hạt tích điện tác dụng tương hỗ với ĐTT lớn hơn bình thường, sự cân bằng của ĐTT bị phá vỡ và cường độ của từ trường tăng lên. Hiện tượng cường độ của ĐTT đạt giá trị cao và gây tác động kéo dài thì gọi là hiện tượng bão từ.

+ Công tác dự báo và đo đạc bão từ dựa trên cơ sở quan sát các vết đen của Mặt trời. Vết đen là hố lớn hình phễu trên bề mặt Mặt trời nóng bỏng mà các hạt của plasma bay từ độ sâu thẳm và có nhiệt độ cao sẽ bay qua đó tớ Trái đất. Các loại hạt tích điện mất khoảng 1 đến 2 ngày mới tới được hành tinh của chúng và sẽ tác động đến ĐTT. Vết đen xuất hiện rồi lại biến mất. Đặc biệt có những vết lớn tồn tại hàng tháng. Nguồn phát ra các hạt tích điện có thể là một nhóm các vết đen nhỏ có thời gian tồn tại rất ngắn. Vì vậy, đối với loại này, dự báo lâu dài là không chính xác bởi có những vết đen mà lúc các nhà quan sát phát hiện ra lại có thể đã không còn tồn tại nữa.

+ Trên thế giới có nhiều cơ sở nghiên cứu tiến hành quan sát Mặt trời: Mỹ có NASA, Nga có Trường Đại học về Mặt Trời, Trường Đại học Địa từ và sóng bức xạ. Tại các cơ sở đó, người ta đo liên tục cái gọi là "địa từ đồ', trong đó biểu thị cường độ của ĐTT. Căn cứ vào kết quả đo đạc, người ta sẽ đánh giá mức độ tác động có liên quan đến bão từ.

+ Liệu ĐTT có tác động đến con người ? Đối với nhiều người thì víệc trả lời cho câu hỏi trên không hẳn là có. Có người cho nó là điều tưởng tượng vô lý. Số khác lại thường xuyên kêu đau đầu trong thời gian có bão từ. Nhưng không ai có thể phủ định việc chim có thể bị lạc hướng trong khi bay chuyển vùng do bị bão từ chi phối vì chúng định vị bằng từ trường.

+ Mặc dù mặt trời đang đi đến giai đoạn yên tĩnh nhưng các trận bão từ vẫn có thể xảy ra. Chu kỳ hoạt động của mặt trời là 11 năm và đã đạt đỉnh vào năm 2001 - khi mặt trời hoạt động cực mạnh và có rất nhiều bão từ. Dự báo tới năm 2007 mặt trời mới yên tĩnh hoàn toàn. Tính tới 11g30 (ngày 22/9), dữ liệu từ 4 đài địa từ ở Phú Thuỵ (Gia Lâm), Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu) cho thấy hoạt động của mặt trời hoàn toàn yên tĩnh, chưa có dấu hiệu bùng nổ sắc cầu mặt trời. Tuy vậy, theo kinh nghiệm thì trước các trận bão từ lớn, hoạt động của mặt trời thường cực kỳ yên tĩnh như thế.

+ Bùng nổ sắc cầu mặt trời là những vụ nổ lớn nhất trong Thái dương hệ và có thể giải phóng lực của nhiều quả bom hạt nhân 1 tỷ mega tấn. Bùng nổ sắc cầu giải phóng các chùm plasma khổng lồ trung hoà về điện của các hạt tích điện. Trên đường đi tới trái đất, các chùm này sẽ bao trùm lên trái đất, tác động với từ quyển trái đất, tạo ra hệ dòng điện tròn xung quanh trái đấtvà nó cũng gây ra bão từ.

@ Ảnh hưởng của bão từ tới sức khỏe con người:

+ Thời kỳ có bão từ là thời kỳ rất nguy hiểm cho người có bệnh tim mạch bởi vì từ trường ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động của các cơ quan trong hệ tuần hoàn của con người. Ngoài ra từ trường của Trái Đất cũng giúp cho một số loài động vật thực hiện một số chức năng sống của chúng như là chức năng định hướng do đó bão từ cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sự sống của các loài này.

+ Đã nhiều năm nay, các nhà bác học quan tâm đến vấn đề ảnh hưởng của bão từ đối với sức khỏe con người. Một số chuyên gia cho rằng đây là vấn đề rất nghiêm trọng, ngược lại, một số người khác không đồng tình với ý kiến ấy. Tiến sĩ khoa học y khoa Yuri Gurfinkel, giám đốc một trong những bệnh viện lớn ở Moskva, đã nghiên cứu rất nghiêm túc vấn đề này trong vòng hơn 15 năm nay. Ông đã thống kê được rằng, trong những ngày có bão từ, số lượng bệnh nhân tim mạch tăng lên 25-30%. Trong thực tế con số này lớn hơn rất nhiều. Ông chỉ ghi chép tỉ mỉ những trường hợp xác định ngày mắc bệnh một cách chính xác. Sau đó, ông chuyển các số liệu ấy cho Viện địa từ, tầng iôn và tán xạ sóng radio thuộc viện Hàn lâm khoa học Nga. Ở đó người ta tiến hành đối chiếu các số liệu này với các chỉ số hoạt tính địa từ. Hóa ra, trước hoặc trong những ngày có bão từ, bệnh nhân nhiều gấp đôi so với những ngày đẹp trời. Và đây không chỉ là các ghi chép của ông. Các đồng nghiệp ở nhiều thành phố khác cũng có những kết quả quan sát tương tự.

+ Các cơn bão từ khác nhau về tần suất và cường độ. Hơi ngược đời một chút, nhưng ông nhận thấy rằng những cơn bão từ nhỏ nhiều khi lại tác động mạnh đến sức khỏe con người, hơn là những cơn bão từ lớn. Và bão từ đột ngột thường nguy hiểm hơn những cơn bão từ kéo đến dần dần. Nói chung, khoảng 85% bão từ ảnh hưởng đến cơ thể người theo từng mức độ khác nhau.

+ Luồng hạt bẩn sinh ra do các vụ nổ trên mặt trời sẽ xuống đến mặt đất sau khoảng 3 ngày đêm. Luồng này có ảnh hưởng xấu đến sự sống trên mặt đất. Tìm ra cơ chế ảnh hưởng này là nhiệm vụ chính của ông. Người ta đã lấy máu làm đối tượng nghiên cứu. Mấy năm gần đây xuất hiện giả thiết cho rằng tác nhân đầu tiên, đầu mối tiếp nhận tác động từ đối với cơ thể người là huyết cầu tố — chất protit có trong cấu tạo của tế bào máu. Trong thành phần của chất này có sắt. Trong cơ thể người liều lượng sắt là khoảng 4,5-5 gr, một nửa lượng này nằm trong các phân tử hồng cầu. Có lẽ vì vậy mà máu chính là yếu tố đầu tiên phản ứng trước sự thay đổi của luồng từ.

+ Trước hết, các nhà khoa học nghiên cứu các mao mạch trong hệ thống tuần hoàn máu. Những hồng cầu lưu chuyển trong các mao mạch này, đưa ô xy đi nuôi các mô, rồi cũng các hồng cầu này nhận thán khí và các sản phẩm trao đổi chất. Các nhà khoa học ở Viện thần kinh học nghiên cứu đặc tính lưu biến của máu, tức là tính lưu thông của máu, ở các bệnh nhân bị đột quỵ. Họ nhận thấy rằng trong khoảng thời gian một hai ngày trước khi có bão từ thì đặc tính lưu biến này bị biến đổi. Máu lưu thông chậm hẳn lại. Đỉnh điểm của hiện tượng này thể hiện trong ngày bão từ xuất hiện.

+ Nhà bác học đã sử dụng một thiết bị chuyên dụng để nghiên cứu máu của người bệnh một cách an toàn. Với sự hỗ trợ của máy này, họ khẳng định được rằng trong những ngày bão từ, quá trình trao đổi ô xy và các chất thải bị chậm lại. Trong mao mạch người khỏe mạnh máu lưu chuyển nhanh và đều đặn. Một ngày đêm sau khi bão từ xuất hiện, hồng cầu thường dính lại với nhau. Điều đó có nghĩa là chúng không thể dễ dàng chuyển ôxy cho các mô, và lúc đó hiện tượng thiếu ô xy bắt đầu. Đối với các bệnh nhân thiếu máu cục bộ thì thông thường các cơ tim đã không được cung cấp ô xy một cách đầy đủ. Có thể nói một cách hình tượng rằng trong những ngày bão từ, họ bị “hiệu ứng kép” thiếu ô xy, điều đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.

+ Để phòng ngừa các hồng cầu dính kết, các nhà khoa học khuyến cáo người bệnh nên dùng thuốc aspirin. Trong thời gian bão từ, liều lượng hiệu quả nhất là 200mg. Bằng việc theo dõi bệnh nhân trong suốt ngày đêm, họ đã ghi nhận sự rối loạn hoạt động của tim, đồng thời cùng việc đó họ cũng ghi lại các theo dõi về quá trình bão từ. Kết quả cho thấy rằng khi bão từ đạt mức tối đa thì tần suất co bóp tim của bệnh nhân tăng cao, trong một số trường hợp huyết áp của họ cũng bị tăng lên. Và rốt cục là xảy ra điều tệ hại nhất. Khi bão từ mạnh nhất, máy ghi nhận sự rối loạn nhịp tim khiến các tâm thất rung, cơ bóp nhanh, loạn nhịp, không đồng đều. Phản ứng như vậy dễ gây ra tử vong đột ngột cho những người bị bệnh tim mạch. Trong thực tế, ngay cả đối với những người khỏe mạnh, bão từ cũng gây ảnh hưởng trên toàn bộ các bộ hệ thống cơ thể: các cảm xúc, hoạt động thể lực và hoạt động trí tuệ…đều suy giảm. Tất nhiên, người khỏe mạnh thì sức đề kháng tốt hơn và quá trình hồi phục cũng nhanh chóng hơn so với người bệnh.

+ Ông Yuri Gurfinkel kết luận, ông đã theo dõi chừng 10 000 bệnh nhân. Trong số đó có khoảng 5000 người đã bị nhồi máu cơ tim.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bão từ 1  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ hai, 4 Tháng một 2010, 10:49 AM
 

BÃO TỪ (MAGNETIC STORM)

bao tu

+ Các yếu tố của từ trường Trái đất biến đổi hầu như cùng một lúc trên quy mô tòan cầu gọi là bão từ.


+ Bão từ hay còn gọi là bão địa từ trên Trái Đất là những thời kỳ mà kim la bàn dao động mạnh. Nguyên nhân gây ra bão từ là do dòng hạt mang điện phóng ra từ các vụ bùng nổ trên Mặt Trời tác dụng lên các đường cảm ứng từ của Trái Đất. Trên một số hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, nhất là các hành tinh có từ quyển (như Sao Thổ) cũng có hiện tượng tương tự.


+ Các quá trình được miêu tả như sau:

1.Các dòng hạt mang điện phóng ra từ Mặt Trời sinh ra một từ trường, có độ lớn vào khoảng 6.10-9tesla.

2.Từ trường này ép lên từ trường Trái Đất làm cho từ trường nơi bị ép tăng lên.

3.Khi từ trường Trái Đất tăng lên, từ thông sẽ biến thiên và sinh ra một dòng điện cảm ứng chống lại sự tăng từ trường của Trái Đất.

4.Dòng điện cảm ứng này có thể đạt cường độ hàng triệu ampe chuyển động vòng quanh Trái Đất và gây ra một từ trường rất lớn tác dụng lên từ trường Trái Đất.

5.Hiện tượng này tiếp diễn làm cho từ trường Trái Đất liên tục biến thiên và kim la bàn dao động mạnh.

+ Ảnh hưởng của bão từ: gây ra rối loạn trong liên lạc vô tuyến hay thậm chí gây mất điện.


+ Công tác dự báo và đo đạc bão từ dựa trên cơ sở quan sát các vết đen của Mặt trời. Vết đen là hố lớn hình phễu trên bề mặt Mặt trời nóng bỏng mà các hạt của plasma bay từ độ sâu thẳm và có nhiệt độ cao sẽ bay qua đó tớ Trái đất. Các loại hạt tích điện mất khoảng 1 đến 2 ngày mới tới được hành tinh của chúng và sẽ tác động đến ĐTT. Vết đen xuất hiện rồi lại biến mất. Đặc biệt có những vết lớn tồn tại hàng tháng. Nguồn phát ra các hạt tích điện có thể là một nhóm các vết đen nhỏ có thời gian tồn tại rất ngắn. Vì vậy, đối với loại này, dự báo lâu dài là không chính xác bởi có những vết đen mà lúc các nhà quan sát phát hiện ra lại có thể đã không còn tồn tại nữa.

@ Ảnh hưởng của bão từ tới sức khỏe con người:

+ Thời kỳ có bão từ là thời kỳ rất nguy hiểm cho người có bệnh tim mạch bởi vì từ trường ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động của các cơ quan trong hệ tuần hoàn của con người. Ngoài ra từ trường của Trái Đất cũng giúp cho một số loài động vật thực hiện một số chức năng sống của chúng như là chức năng định hướng do đó bão từ cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sự sống của các loài này.


+ Đã nhiều năm nay, các nhà bác học quan tâm đến vấn đề ảnh hưởng của bão từ đối với sức khỏe con người. Một số chuyên gia cho rằng đây là vấn đề rất nghiêm trọng, ngược lại, một số người khác không đồng tình với ý kiến ấy. Tiến sĩ khoa học y khoa Yuri Gurfinkel, giám đốc một trong những bệnh viện lớn ở Moskva, đã nghiên cứu rất nghiêm túc vấn đề này trong vòng hơn 15 năm nay. Ông đã thống kê được rằng, trong những ngày có bão từ, số lượng bệnh nhân tim mạch tăng lên 25-30%. Trong thực tế con số này lớn hơn rất nhiều. Ông chỉ ghi chép tỉ mỉ những trường hợp xác định ngày mắc bệnh một cách chính xác. Sau đó, ông chuyển các số liệu ấy cho Viện địa từ, tầng iôn và tán xạ sóng radio thuộc viện Hàn lâm khoa học Nga. Ở đó người ta tiến hành đối chiếu các số liệu này với các chỉ số hoạt tính địa từ. Hóa ra, trước hoặc trong những ngày có bão từ, bệnh nhân nhiều gấp đôi so với những ngày đẹp trời. Và đây không chỉ là các ghi chép của ông. Các đồng nghiệp ở nhiều thành phố khác cũng có những kết quả quan sát tương tự.


+ Các cơn bão từ khác nhau về tần suất và cường độ. Hơi ngược đời một chút, nhưng ông nhận thấy rằng những cơn bão từ nhỏ nhiều khi lại tác động mạnh đến sức khỏe con người, hơn là những cơn bão từ lớn. Và bão từ đột ngột thường nguy hiểm hơn những cơn bão từ kéo đến dần dần. Nói chung, khoảng 85% bão từ ảnh hưởng đến cơ thể người theo từng mức độ khác nhau.


+ Trước hết, các nhà khoa học nghiên cứu các mao mạch trong hệ thống tuần hoàn máu. Những hồng cầu lưu chuyển trong các mao mạch này, đưa ô xy đi nuôi các mô, rồi cũng các hồng cầu này nhận thán khí và các sản phẩm trao đổi chất. Các nhà khoa học ở Viện thần kinh học nghiên cứu đặc tính lưu biến của máu, tức là tính lưu thông của máu, ở các bệnh nhân bị đột quỵ. Họ nhận thấy rằng trong khoảng thời gian một hai ngày trước khi có bão từ thì đặc tính lưu biến này bị biến đổi. Máu lưu thông chậm hẳn lại. Đỉnh điểm của hiện tượng này thể hiện trong ngày bão từ xuất hiện.


+ Nhà bác học đã sử dụng một thiết bị chuyên dụng để nghiên cứu máu của người bệnh một cách an toàn. Với sự hỗ trợ của máy này, họ khẳng định được rằng trong những ngày bão từ, quá trình trao đổi ô xy và các chất thải bị chậm lại. Trong mao mạch người khỏe mạnh máu lưu chuyển nhanh và đều đặn. Một ngày đêm sau khi bão từ xuất hiện, hồng cầu thường dính lại với nhau. Điều đó có nghĩa là chúng không thể dễ dàng chuyển ôxy cho các mô, và lúc đó hiện tượng thiếu ô xy bắt đầu. Đối với các bệnh nhân thiếu máu cục bộ thì thông thường các cơ tim đã không được cung cấp ô xy một cách đầy đủ. Có thể nói một cách hình tượng rằng trong những ngày bão từ, họ bị “hiệu ứng kép” thiếu ô xy, điều đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.


+ Để phòng ngừa các hồng cầu dính kết, các nhà khoa học khuyến cáo người bệnh nên dùng thuốc aspirin. Trong thời gian bão từ, liều lượng hiệu quả nhất là 200mg. Bằng việc theo dõi bệnh nhân trong suốt ngày đêm, họ đã ghi nhận sự rối loạn hoạt động của tim, đồng thời cùng việc đó họ cũng ghi lại các theo dõi về quá trình bão từ. Kết quả cho thấy rằng khi bão từ đạt mức tối đa thì tần suất co bóp tim của bệnh nhân tăng cao, trong một số trường hợp huyết áp của họ cũng bị tăng lên. Và rốt cục là xảy ra điều tệ hại nhất. Khi bão từ mạnh nhất, máy ghi nhận sự rối loạn nhịp tim khiến các tâm thất rung, cơ bóp nhanh, loạn nhịp, không đồng đều. Phản ứng như vậy dễ gây ra tử vong đột ngột cho những người bị bệnh tim mạch. Trong thực tế, ngay cả đối với những người khỏe mạnh, bão từ cũng gây ảnh hưởng trên toàn bộ các bộ hệ thống cơ thể: các cảm xúc, hoạt động thể lực và hoạt động trí tuệ…đều suy giảm. Tất nhiên, người khỏe mạnh thì sức đề kháng tốt hơn và quá trình hồi phục cũng nhanh chóng hơn so với người bệnh.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Bão từ.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Đơn vị áp suất thường dùng trong khí tượng, bằng 105 Pa, gần bằng 1 atmôtphe. Ước: .

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bar  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

     Đại lượng không thay đổi đối với một phép biến đổi nào đó. Ví dụ gia tốc là bất biến đối với các hệ quy chiếu quán tính, vì nó không đổi khi ta thay hệ quy chiếu quán tính này bằng hệ quy chiếu quán tính khác.

      Nếu một phương trình biểu diễn một định luật vật lý không đổi dạng trong phép biến đổi đang xét thì người ta cũng nói rằng định luật là bất biến đổi với phép biến đổi ấy. Ví dụ: Định luật II của Niutơn là bất biến đối với các hệ quy chiếu quán tính (nó giữ nguyên dạng  khi đổi hệ).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bất biến  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Sự tạo thành hơi từ mặt thoáng của chất lỏng, xảy ra ở nhiệt độ bất kỳ dưới nhiệt độ sôi. Nếu chất lỏng đựng trong bình kín thì nó bay hơi cho đến khi áp suất hơi bằng một giá trị xác định cho từng nhiệt độ, gọi là áp suất hơi bão hòa.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bay hơi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đơn vị không thứ nguyên của tỉ số hai đại lượng cùng loại P1/P2, ký hiệu B. Tỉ số 10 ứng với 1 ben, tỉ số 10x ứng với x ben, nghĩa là: x(B) = log P1/P2.

Thường dùng ước đexiben, ký hiệu dB; 1 dS = 0,1 B dùng trong Âm học, Điện học.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: ben(B)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Sự thay đổi kích thước và hình dạng của các vật rắn khi chịu tác dụng của các lực. Nếu sau khi lực ngưng tác dụng, vật lấy lại kích thước và hình dạng ban đầu thì biến dạng gọi là biến dạng đàn hồi; nếu vật còn biến dạng, thì ta có biến dạng còn dư, ha biến dạng dẻo.

Có nhiều loại biến dạng: căng, nén, lệch, uốn, xoắn…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến dạng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

 Điện trở mà giá trị có thể thay đổi.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến trở  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Sự biến đổi một đặc trưng (biên độ, tần số, hoặc pha) của một sóng điện từ cao tần (sóng mang của vô tuyến truyền thanh chẳng hạn) theo một sóng tín hiệu cần truyền đi (sóng âm tần của tiếng nói, nhạc. Trong hình 10, a là sóng mang; b là sóng tín hiệu; c là sóng mang đã biến điệu theo biên độ (điều biên): tần số không thay đổi, biên độ biến đổi theo sóng tín hiệu; d là sóng mang đã biến điệu theo tần số (điều tần): biên độ không đổi, tần số biến đổi theo sóng tín hiệu.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến điệu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Giá trị lớn nhất, về trị số tuyệt đối, mà một đại lượng dao động điều hòa đạt được. Nếu biểu thức của dao động ấy là x = asin($$\omega.t +\phi) thì biên độ là a.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biên độ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Sự biến đổi của một chất từ trạng thái này (răn, hoặc lỏng, hoặc khí) sang trạng thái khác. Ví dụ: sự nóng chảy, sự hóa hơi… Còn gọi là biến đổi pha hay chuyển pha, nhưng chuyển pha rộng hơn, vì cũng một trạng thái rắn chẳng hạn có thể gồm hai pha khác nhau như sắt từ và thuận từ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: biến đổi trạng thái  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bình có vỏ cách nhiệt để làm giảm tối đa sự trao đổi nhiệt giữa chất đựng trong bình và môi trường ngoài. Nhờ vậy mà có thể giữ nước sôi nóng lâu (phích nước nóng) hoặc giữ nước đá lâu tan (phích nước đá). Vỏ bình có hai thành bằng thủy tinh dẫn nhiệt kém, nếu mạ bạc thì bức xạ rất ít. Đối lưu cũng không xảy ra trong chân không. Nhờ vậy mà sự truyền nhiệt rất hạn chế.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bình cách nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bộ phận của máy nhiệt ở đó hơi tỏa nhiệt và ngưng tụ thành chất lỏng. Ở máy làm lạnh thì bộ phận này không có dạng bình mà có dạng ống uốn dích dắc để dễ tỏa nhiệt (đặt phía sau tủ lạnh).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bình ngưng hơi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Những bình có dạng bất kỳ nối với nhau ở phần dưới. Nếu chứa cùng một chất lỏng thì mặt thoáng ở các bình ở cùng một độ cao. Nếu chứa hai chất lỏng khác nhau thì độ cao các mặt thoáng tính từ mặt phân cách h1 và h2, tỷ lệ nghịch với các khối lượng riêng r1r2: r1h1 = r2h2 (H. 11).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bình thông nhau  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bộ phận trong các động cơ đốt trong, tạo nên hỗn hợp không khí và xăng. Gồm có bầu chứa xăng A có phao B để giữ mực xăng luôn ở ngang đầu kim phun C (H. 12). Không khí đi tới chỗ thắt lại của ống D thì có áp suất giảm, xăng bị hút lên và phân tán thành giọt nhỏ hòa lẫn với không khí thành hỗn hợp đi vào xi lanh.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bộ chế hòa khí  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Dụng cụ để hút, đẩy, nén chất lỏng (hoặc khí). Hình 13 vẽ bơm hút – đẩy. Khi pittong A đi lên, van V mở, chất lỏng bị hút vào thân bơm do tác dụng của áp suất khí quyển. Khi pittông đi xuống, van V đóng, pittong đẩy chất lỏng lách qua van W đi lên. Hình 14 vẽ bơm ly tâm. Khi các cánh A quay, chất lỏng trong thân bơm cũng quay và do lực ly tâm tác dụng, chuyển từ tâm ra mép ngoài rồi thoát ra theo ống tiếp tuyến B.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bơm  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

     Bom nguyên tử. A là chữ bắt đầu của từ atom (nguyên tử).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bom A  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bơm chân không là dụng cụ để rút chất khí ra khỏi một mình, làm áp suất trong đó giảm xuống mốt giá trị rất nhỏ. Bơm chân không có nhiều loại, loại dùng trong nghiên cứu khoa học có thể hút khí tới áp suất 10-11 mmHg.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Bơm chân không  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bom khinh khí. H là chữ bắt đầu của từ Hiđro (khinh khí, là từ cổ để trỏ hiđro).

      Bom khinh khí dựa vào phản ứng tổng hợp các đồng vị nặng của hiđro, đơtêri hoặc triti. Phản ứng này chỉ xảy ra ở nhiệt độ hàng trăm triệu độ, nên còn gọi là phản ứng nhiệt hạch. Bom khinh khí có “ngòi nổ” là một quả bom nguyên tử để tạo ra nhiệt độ cần thiết.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bom H  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Vũ khí có sức tàn phá ghê gớm, sử dụng năng lượng được giải phóng trong một số phản ứng hạt nhân. Có hai loại bom hạt nhân chính: bom nguyên tử (bom A) và bom khinh khí (bom H). Bom nguyên tử sử dụng phản ứng phân hạch của các chất urani 235 hoặc plutoni 239. Bom chứa nhiều khối urani 235 (hoặc plutoni 239) ở cách nhau, mỗi khối có khối lượng nhỏ hơn khối lượng tới hạn. Nếu làm chập các khối lại thì vượt khối lượng tới hạn, phản ứng phân hạch dây chuyền xảy ra và bom nổ.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bom hạt nhân  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Phần không gian ở sau một vật chắn sáng chứa những điểm không nhận được tia sáng nào từ nguồn sáng. Nếu nguồn sáng không phải là một điểm mà có kích thước thì ngoài bóng tối còn có bóng nửa tối là phần không gian ở sau vật chắn sáng chứa những điểm chỉ nhận được những tia sáng đi từ một phần của nguồn sáng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bóng tối  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Thuật ngữ chung để trỏ các sóng điện từ và các tia phóng xạ. Bức xạ (sóng) điện từ bao gồm: bức xạ vô tuyến điện, bức xạ hồng ngoại, bức xạ (ánh sáng) nhìn thấy, bức xạ tử ngoại, bức xạ X, bức xạ gamma. Các tia phóng xạ bao gồm tia anpha, tia bêta, tia gamma. Do các hạt sơ cấp có lưỡng tính sóng – hạt nên bức xạ điện từ vừa là sóng điện từ vừa là các tia phôtôn. Ví dụ: gọi tia gamma là bức xạ gamma cũng được.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

         Bức xạ điện từ của một vật ở trạng thái cân bằng nhiệt động (có nhiệt độ không đổi). Việc nghiên cứu bức xạ nhiệt ở cuối thế kỷ 19 đã dẫn tới khái niệm lượng tử ánh sáng. Theo nghĩa hẹp hơn, bức xạ nhiệt trỏ các sóng điện từ (chủ yếu là tia hồng ngoại) tải năng lượng từ nguồn nóng đến vật khác (theo đường thẳng).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

C.n. Tia tử ngoại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ tử ngoại  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Xem Ánh sáng đơn sắc.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bức xạ đơn sắc  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

(tiếng Pháp bougie). Bộ phận đánh lửa trong động cơ đốt trong. Có hai mũi dẫn điện nối với nguồn điện, cách nhau một khe nhỏ. Khi hiệu điện thế đủ lớn thì dòng điện phóng qua khe dưới dạng tia lửa điện.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bugi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Điểm có biên độ dao động lớn nhất trong sóng đứng. Trên hình 15, A, B, C là các bụng sóng, chúng cách nhau một nửa bước sóng, chúng cách nhau một nửa bước sóng. Nút sóng là điểm có biên độ dao động bé nhất hoặc bằng không. Trong hình, D, E, F là các nút sóng, cũng cách nhau nửa bước sóng. Bụng sóng cách nút sóng gần nhất một khoảng bằng một phần tư bước sóng. Trong sóng dọc (như sóng âm) thì bụng dao động lạinút áp suất (không khí có áp suất bình thường), và ngược lại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bụng sóng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

      Khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất dao động đồng pha trên cùng một đường truyền sóng. Cũng là quãng đường sóng đi được trong một chu kỳ T. Bước sóng l liên hệ với chu kỳ và vận tốc truyền sóng c bằng hệ thức.

l = cT

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

        Nếu một hạt có khối lượng m thì bước sóng Cômtơn của nó là

l = ***/mc

      Trong đó ***hằng số Plăng rút gọn, c là vận tốc ánh sáng trong chân không.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng Cômtơn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

          Theo thuyết của nhà vật lý học Pháp Đơ-Brơi. (De Broglie 1892 - 1987) các hạt cũng có tính chất sóng. Kèm theo mỗi hạt có động lượng p là một sóng có bước sóng l = h/p, gọi là bước sóng Đơ-brơi (h là hằng số Plăng).

Bản chất vật lý của các sóng Đơ-brơi còn chưa rõ nhưng thí nghiệm đã khẳng định thuyết của ông. Các “sóng êlectrôn” cũng bị nhiễu xạ như các sóng điện từ. Riêng đối với hạt phôtôn thì sóng Đơ-Brơi chính là sóng điện từ có bước sóng l = h/p, p là động lượng của phôtôn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng Đơ-brơi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 


Theo thuyết của nhà vật lý học Pháp Đơ-Brơi. (De Broglie 1892 - 1987) các hạt cũng có tính chất sóng. Kèm theo mỗi hạt có động lượng p là một sóng có bước sóng
l = h/p, gọi là bước sóng Đơ-brơi (h là hằng số Plăng).


Bản chất vật lý của các sóng Đơ-brơi còn chưa rõ nhưng thí nghiệm đã khẳng định thuyết của ông. Các “sóng êlectrôn” cũng bị nhiễu xạ như các sóng điện từ. Riêng đối với hạt phôtôn thì sóng Đơ-Brơi chính là sóng điện từ có bước sóng l = h/p, p là động lượng của phôtôn.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: bước sóng Đơ-brơi.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

       Buồng chứa một chất lỏng ở trạng thái chậm sôi dùng để ghi vết của các hạt sơ cấp tích điện bằng một chuỗi các bọt hơi sinh ra dọc đường đi của hạt. Dụng cụ này cho ảnh rõ rệt hơn buồng Uynxơn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: buồng bọt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

          Dụng cụ để quan sát quỹ đạo các hạt sơ cấp tích điện. Gồm một buồng hỗn hợp một chất khí (heli, nitơ hay agon) và hơi của một chất lỏng (nước ha rượu etilic). Khi làm tăng thể tích của buồng thì hơi trở thành quá bão hòa và dễ dàng ngưng tụ quanh các ion do hạt tích điện gây ra; chuỗi các giọt nước này đánh dấu quỹ đạo của hạt.

Dụng cụ này do nhà bác học Mĩ Uynxơn (Wilson 1869 - 1959) chế tạo lần đầu năm 1912. Hiện nay được thay thế bằng các dụng cụ khác hoàn thiện hơn. X. Buồng bọt.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: buồng Uynxơn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ tư, 21 Tháng một 2009, 11:04 PM
 

+ Cá hồi là tên gọi cho một số loài cá da trơn sống ở các nước ôn đới và hàn đới thuộc họ Salmonidae. Cá hồi sống ở Đại Tây DươngThái Bình Dương và Hồ Great Lakes, Bán đảo Kamchatka, và ở Viễn Đông Nga. Ở Việt Nam, cá hồi đã được nuôi thành công ở Sa Pa.

+ Cá hồi sống trong môi trường "nước động" Cá hồi sinh ra ở môi trường nước ngọt, nhưng cá con chỉ sống một thời gian ngắn ở môi trường này rồi tự bơi ra biển. Phần lớn quãng đời của cá hồi là sống trong môi trường nước mặn. Cá hồi di cư vì hai lý do: nguồn thức ăn và địa điểm sinh sản. Nguồn thức ăn của cá hồi là ở biển, trong khi đó cá lại sinh sản ở vùng nước ngọt.

+ Loài cá hồi khi di chuyển định hướng bằng mùi. Mỗi chú cá nhớ một mùi của dòng sông nơi nó sinh ra. Khi di chuyển qua đại dương trở về con sông sinh sản, con cá sẽ tìm thấy đường của nó một cách hoàn toàn bản năng vì mùi vị thân quen càng gần càng trở nên rõ rệt.

+ Sự di cư ngược dòng sông về các bãi đẻ chỉ xảy ra một lần trong đời của hầu hết cá hồi (Salmon). Khi đến tuổi sinh sản, cá hồi di cư hàng dặm để các bãi đẻ trứng. Khi về đến cửa sông, chúng tụ lại trong vùng nước lợ (nước hơi mặn) và đợi con nước lớn đưa chúng ngược lên dòng sông.

+ Hành trình ngược dòng sông có thể mất vài tháng. Những chú cá thường phải băng mình qua những thác nước và vách dốc để đến những con suối cạn đẻ trứng. Vì cá hồi không ăn ở vùng nước ngọt, nên chúng bị mất 40% khối lượng cơ thể vào thời gian đẻ trứng và thụ tinh cho trứng. Hầu hết chúng đều chết sau đó.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cá hồi  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ để phân tích ánh sáng trắng thành phổ. Cách tử cùng với lăng kính được dùng trong các máy quang phổ. Cách tử có thể chế tạo bằng cách dùng mũi kim cương nhọn rạch lên một tấm thủy tinh những vạch song song cách đều; những vạch này ngăn ánh sáng đi qua, những dải còn lại là những khe cho ánh sáng đi qua (H. 16), khoảng cách a giữa hai khe, gọi là bước của cách tử phải rất nhỏ, cỡ mirômét.

Hình 16


Một chùm sóng đập vuông góc vào cách tử sẽ bị nhiễu xạ. Theo phương làm thành một góc q với pháp tuyến, ta có cực đại của cường độ sáng nếu hiệu quang trình của hai tia phát từ hai khe liên tiếp bằng một số nguyên lần bước sóng l: d = asin q = kl; k gọi là bậc của quang phổ. q phụ thuộc l nên các bức xạ có l khác nhau sẽ có cực đại ở các phương q khác nhau, do đó chùm sáng tới bị phân tích thành quang phổ (H. 17). Ở đây, trái với lăng kính, màu đỏ bị lệch nhiều hơn màu tím.

Hình 17

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cách tử  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Đơn vị nhiệt lượng, bằng 4,18 jun. Bằng nhiệt lượng phải cung cấp cho 1 gam nước để tăng nhiệt độ của nó lên 1oC. Đơn vị này ở ngoài hệ SI. Nay ít dùng, chỉ dùng trong Dinh dưỡng học.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: calo  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Phần tử có tác dụng biến đại lượng cần đo (áp suất, nhiệt độ, độ dịch chuyển…) thành một đại lượng khác (hiệu điện thế chẳng hạn) thuận tiện hơn cho việc truyền đi, đo lường, ghi nhận…
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm biến  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Điện trở mà một cuộn dây gây ra riêng cho dòng xoay chiều, ngoài điện trở thuần mà nó gây ra cho cả dòng một chiều lẫn xoay chiều. Nếu L là độ tự cảm của cuộn dây (đo bằng henry trong hệ SI), wtần số góc của dòng xoay chiều (đơn vị 1/s thì cảm kháng XL cũng đo bằng ôm như điện trở thuần: XL = wL
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm kháng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

C.n. Nhiễm điện do hưởng ứng.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng tĩnh điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đại lượng vectơ  đặc trưng cho từ trường. Nếu M là một điểm trong từ trường do dòng điện XY sinh ra thì vectơ cảm ứng từ được xác định bằng cách đặt ở điểm ấy một khung dây nhỏ có dòng điện I chạy qua. Sau một lúc dao động khung đứng yên (H. 18).

Hình 18

1. Hướng của  là hướng của vectơ pháp tuyến dương của khung (chiều dương là chiều tiến của cái vặn nút chai hoặc (đinh ốc thuận) xoay theo chiều dòng điện I).

Nếu đặt ở M một kim nam châm nhỏ thì hướng của  cũng là hướng đi từ cực nam S đến cực bắc N của kim nam châm.

2. Độ lớn của cảm ứng từ là , Mmax là mômen lực cực đại tác dụng lên khung dây có diện tích S và dòng điện I chạy qua.

Đơn vị của cảm ứng từ trong bảng đơn vị pháp là tesla ký hiệu T (Tesla là tên một kỹ sư Nam Tư, 1884 - 1943).

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

 Xem Chất sắt từ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng từ dư  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự xuất hiện suất điện động (gọi là suất điện động cảm ứng) trong một dây dẫn chuyển động trong từ trường không đổi, hoặc một mạch đứng yên trong từ trường biến thiên. Trường hợp thứ nhất có thể giải thích bằng lực Lorenxơ; trong trường hợp sau, từ trường biến thiên làm xuất hiện điện trường xoáy, là nguồn gốc của suất điện động cảm ứng. Trong cả hai trường hợp suất điện động cảm ứng E đo bằng vôn. Dấu trừ thể hiện quy tắc Lenxơ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng điện từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự xuất hiện suất điện động (gọi là suất điện động cảm ứng) trong một giây dẫn chuyển động trong từ trường không đổi, hoặc một mạch đứng yên trong từ trường biến thiên. Trường hợp thứ nhất có thể giải thích bằng lực Lorenxơ; trong trường hợp sau, từ trường biến thiên làm xuất hiện điện trường xoáy, là nguồn gốc của suất điện động cảm ứng. Trong cả hai trường hợp suất điện động cảm ứng E đo bằng vôn. Dấu trừ thể hiện quy tắc Lenxơ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cảm ứng điện từ.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Dụng cụ dùng để đo khối lượng của các vật. Có nhiều loại cân: Cân Rôbecvancân tiểu ly có hai cánh tay đòn bằng nhau; cân đòn, cân bàn, cân tự động có hai cánh tay đòn khác nhau. Hình 20 vẽ sơ đồ của cân tự động: đối trọng m có cánh tay đòn OH biến đổi nên có thể cân bằng được các khối lượng M khác nhau, kim K trỏ giá trị của M.

Cân lò xo thực ra là lực kế, đo trọng lượng của vật chứ không đo được khối lượng. Nhưng vì trọng lượng tỷ lệ với khối lượng, hệ số tỉ lệ biến đổi ít nên có thể chia độ cân lò xo theo khối lượng để dùng trong sinh hoạt.

Hình 20

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Trạng thái của một hệ cơ học trong đó tất cả các điểm của hệ đứng yên đối với một hệ quy chiếu xác định. Nếu hệ quy chiếu là quán tính thì cân bằng gọi là cân bằng tuyệt đối.

Điều kiện cân bằng đủ để một vật rắn đạt cân bằng tuyệt đối là:

1. Tổng vectơ ngoại lực đặt vào vật bằng không hoặc,

Nếu chiếu các lực xuống ba trục tọa độ:

                               (1)

2. Tổng mômen các lực ấy đối với ba trục bằng không:

           (2)

Nếu vật rắn có trục quay cố định rất vững chãi thì các điều kiện (1) nghiễm nhiên được thỏa mãn. Lấy trục x trùng với trục quay, ta chỉ còn một điều kiện:

Dĩ nhiên ban đầu vật phải đứng yên, nếu không thì nó sẽ quay đều mãi mãi (quán tính quay).

Việc nghiên cứu cân bằng của hệ quy chiếu không quán tính giống như nghiên cứu cân bằng tuyệt đối với điều kiện xét thêm các lực quán tính.

Cân bằng của vật gọi là cân bằng bền nếu khi đưa vật ra khỏi vị trí cân bằng thì nó tự trở về vị trí cân bằng (H. 21a). Nếu một độ lệch rất nhỏ cũng làm nó tiếp tục ra xa vị trí cân bằng thì cân bằng này gọi là không bền (H. 21b). Nếu ở các vị trí lân cận vật vẫn có cân bằng thì ta có cân bằng phiếm định (H. 21c). Nói chung vật có cân bằng bền, hoặc không bền, hoặc phiếm định tùy theo thế năng của nó là cực tiểu hay cực đại, hay không đổi. Trường hợp đơn giản vẽ trong hình 21, các cân bằng này ứng với vị trí của khối tâm: a. thấp nhất, b. cao nhất, c. không đổi.

Hình 21

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân bằng cơ học  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Trạng thái cân bằng nhiệt của hệ là trạng thái trong đó mọi phần của hệ có cùng một nhiệt độ không đổi theo thời gian. Một số thông số trạng thái khác cũng có cùng một giá trị ở mọi phần và không đổi theo thời gian (giả thiết không có tác dụng từ ngoại hệ). Ví dụ áp suất, mật độ của chất khí ở trạng thái cân bằng nhiệt. Trong lòng hệ các quá trình vi mô xảy ra nhưng không dẫn đến các biến đổi vĩ mô.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân bằng nhiệt, cân bằng nhiệt động  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một tật của mắt. Mắt cận thị có tiêu điểm F ở đằng trước võng mạc V, do độ tụ của thủy tinh thể quá lớn. Mắt cận thị không nhìn rõ các vật ở xa. Muốn sửa tật cận thị, phải đeo kính phân kỳ K (H. 22).

Hình 22

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cận thị  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Phương pháp đo khối lượng riêng của các chất rắn và lỏng, dựa vào lực đẩy Acsimet để tính thể tích
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cân thủy tĩnh (phương pháp)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

1. Điểm gần nhất mà mắt có thể nhìn rõ được, khi điều tiết nhiều nhất. So với mắt bình thường, mắt cận thị có cận điểm ở gần mắt hơn, mắt viễn thị có cận điểm ở xa mắt hơn.

2. Điểm gần tiêu điểm nhất. Vệ tinh của một thiên thể chuyển động trên một elip mà một tiêu điểm là thiên thể ấy. Một đầu của trục lớn của quỹ đạo có khoảng cách tới tiêu điểm ấy nhỏ nhất và gọi là cận điểm của quỹ đạo.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cận điểm, điểm cực cận  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Cánh tay đòn d của một lực clip_image002.gif đối với một trục X là khoảng cách xác định như sau (H. 19).

Hình 19        
1. Nếu F nằm trong mặt phẳng P vuông góc với X ở điểm O thì cánh tay đòn của  là khoảng cách từ O đến giá của , OH = d. Nếu r = OA là bán kính vectơ của góc A của  
q là góc giữa r và  thì d = rsinq.


2. Nếu  là một lực không nằm trong một mặt phẳng vuông góc với X thì cánh tay đòn của nó cũng bằng cánh tay đòn của lực  thu được khi chiếu  xuống mặt phẳng P vuông góc với X.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cánh tay đòn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Đơn vị cường độ sáng của bản đơn vị hợp pháp, ký hiệu Cd. Là cường độ sáng đo theo phương vuông góc với nó của một diện tích bằng 1/60 cm2, bức xạ như một vật bức xạ toàn phần ở nhiệt độ đông đặc của platin, dưới áp suất 101325 niutơn trên mét vuông (áp suất tiêu chuẩn).

canđela giây. Đơn vị lượng sáng của Bảng đơn vị hợp pháp, là lượng sáng của một nguồn có cường độ sáng 1 canđela, phát ra trong thời gian 1 giây. Ký hiệu: Cds.

canđela trên mét vuông (nit). Đơn vị độ chói trong bảng đơn vị hợp pháp, là độ chói của một nguồn phẳng 1 m2 có cường độ sáng 1 canđela, đo theo phương vuông góc với nguồn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: canđela  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Có điện thế cao. Cuộn cao áp trong máy thu hình có điện thế hàng chục kilôvôn. Đường dây cao thế để tải điện có điện thế 30 kV, 110 kV…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cao áp, cao thế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Tần số cao, nằm trong dải từ 20 kilôhec đến 300 mêgahec.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cao tần  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Máy đo độ cao mà nguyên tắc hoạt động là: áp suất không khí giảm theo độ cao.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cao độ kế  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Xem. Hiện tượng nhiệt điện
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cặp nhiệt điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 


1. Điện cực trong nguồn điện một chiều (pin, acquy…) có điện thế thấp hơn điện cực kia.


2. Điện cực của dụng cụ nối với âm cực của nguồn điện.


3. Điện cực phát ra êlectrôn trong đèn điện tử hay đèn chứa khí.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: catôt, âm cực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Bộ phận bảo vệ mạng điện; là một đoạn dây bằng chì hay một hợp kim dễ chảy, tiết diện được chọn sao cho nếu dòng điện vượt quá giới hạn an toàn thì nhiệt tỏa ra làm chảy đứt cầu chì, và dòng điện bị ngắt.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cầu chì.  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Một kiểu mạch điện gồm những điện trở sắp xếp như trong hình 23, dùng để xác định điện trở Rx theo ba điện trở đã biết. Khi không có dòng điện chạy qua điện kế G thì ta có:

Hình 23

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: cầu Uytxtơn (Wheastone)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Nhà vật lý học Anh (1731 - 1810). Nghiên cứu Tĩnh điện, nêu các khái niệm điện thế, điện dung… Năm 1798 dùng cân xoắn đo được hằng số hấp dẫn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Cavenđixơ (Cavendish)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Một kiểu tụ điện cổ, là một chai thủy tinh có hai lá kim loại dán ở mặt ngoài và mặt trong
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chai Lâyđen (Leyden)  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Hiện tượng một chất lỏng đã có nhiệt độ thấp hơn điểm đông đặc mà vẫn ở trạng thái lỏng. Trạng thái chậm động là nửa bền: thêm vào chất lỏng chậm đông một ít chất rắn cùng loại hoặc khuấy, nó sẽ bắt đầu đông đặc.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chậm đông  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Trạng thái của chất khí trong bình có áp suất rất nhỏ so với áp suất khí quyển, khoảng dưới 1mm Hg

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chân không  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Cuộn dây có độ tự cảm L. cảm kháng của nó đối với dòng điện có tần số f là XL (ôm) = 2 p f. L (L tính bằng henry). Chấn lưu trong mạch của đèn ống giúp cho sự phóng điện trong ống và hạn chế dòng điện ở mức an toàn.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chấn lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Sự bảo vệ một vật (dụng cụ đo, vật cần nghiên cứu…) khỏi ảnh hưởng của trường tỉnh điện ngoài, bằng cách đặt vật trong một vỏ hay lưới kim loại.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chắn điện  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có điện trở suất trung gian giữa kim loại và điện môi, và giảm khi nhiệt độ tăng (ngược với kim loại) Các chất bán dẫn thường gặp là các nguyên tố silic, giecmani, asen, telu … và nhiều hợp chất như các oait kin loại, sunfua, telerua … Dòng điện trong chất bán dẫn là dòng chuyển dời có hướng đồng thời của các electron tự do (mang điện âm) và các lỗ trống (mang điện dương)

Trong chất bán dẫn tinh khiết thì mật độ electron bằng mật độ lỗ trống và có giá trị nhỏ. Nếu trong chất bán dẫn có lẫn một lượng rất nhỏ nguyên tố khác thì đó là chất bán dẫn có tạp chất. Nếu tạp chất làm cho số electron tự do tăng lên nhiều, mật độ electron lớn hơn nhiều so với mật đội lỗ trống thì ta có chất bán dẫn n (từ chữ nagative nghĩa là âm, vì hạt tải điện cơ bản là electron mang điện âm). Ví dụ: silic pha một ít asen. Nếu tạp chất làm cho lỗ trống tăng lên nhiều thì ta có chất bán dẫn loại p (từ chữ positive, nghĩa là dương, “hạt” tải điện cơ bản là lỗ trống mang điện dương)

Các chất bán dẫn có rất nhiều ứng dụng: điốt bán dẫn, tranzito, nhiệt điện trở, quang điện trở …

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất bán dẫn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ dẫn nhiệt kém, như không khí, các vật liệu xốp. Chân không cách nhiệt tốt.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất cách nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 Vật liệu không chống lại sự biến dạng. Thường là các polime tự nhiên hoặc nhân tạo, có tính cách điện và cách nhiệt tốt.
 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất dẻo  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có cấu tạo tinh thể.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất kết tinh  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất ở trạng thái khí, là trạng thái trong đó có các phân tử có mật độ rất thấp, chuyển động hầu như tự do, trừ khi va chạm vào nhau. Chất khí không có thể tích hay hình dạng xác định mà chiếm toàn bộ không gian dành cho nó.

            Chất khí lý tưởng: Một mô hình đơn giản của chất khí trong đó có các phân tử khí được coi là các chất điểm và không tương tác với nhau, trừ lúc va chạm. Chất khí ký tưởng tuân theo chính xác phương trình gọi là phương trình trạng thái khí ổ mọi nhiệt độ. Ở áp suất thấp và nhiệt độ tương đối cao thì các khí thực gần với khí lý tưởng.

            Chất khí thực: Khi nghiên cứu chất khí thực cần phải coi các phân tử như những quả cầu có đường kính hiệu dụng d. Hai phân tử hút nhau nếu khoảng cách lớn hơn một giá trị r0, đẩy nhau nếu r < r0 , nhưng r không thể nhỏ hơn d. Chất khí thực tuân theo gần đúng phương trình Van de van. Ở áp suất thấp và nhiệt độ tương đối cao, chất khí thực tuân theo các định luật Bôi – Mariốt, Gay – Luytxac và Saclơ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất khí  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất oxi hóa mạnh, khử được ion hydro bám vào điện cực của pin, tránh cho pin khỏi bị phân cực. Ví dụ trong pin Lơclăngsê, mangan điôxýt (MnO2) là chất khử cực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất khử cực  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất ở trạng thái trung gian giữa các trạng thái rắn và khí, gio61ngh chất rắn ở chỗ có thể tích nhất định và khó nén, nhưng lại giống chất khí ở chỗ không có hình dạng nhất định và khó nén, nhưng lại giống chất khí ở chỗ không có hình dạng nhất định và dễ chảy. Khoảng cách giữa các phân tử của chất lỏng vào cỡ kích thước của chính phân tử nên lực tương tác giữa các phân tử khá lớn. Vì vậy chất lỏng có cấu trúc “trật tự gần” (các phân tử sắp xếp có trật tự trong từng thể tích nhỏ) và có sức căng mặt ngoài.

Chất lỏng lý tưởng. Chất lỏng không có tính nhớt và chịu được mọi lực nén mà không giảm thể tích.

Chất lỏng thực bao giờ cũng có tính nhớt và khi chịu nén đủ lớn thì thể tích giảm đi một chút.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất lỏng  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Tên gọi chung của chất lỏng và chất khí

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất lưu  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất có độ từ thẩm m nhỏ hơn đơn vị một chút. Ví dụ m (nước) = 0,99991. Các phân tử của chất nghịch từ không có momen từ riêng. Khi đặt trong từ trường ngoài, do hiện tượng cảm ứng điện từ, xuất hiện một từ trường yếu ngược chiều từ trường ngoài. Vì vậy chất nghịch từ không bị nam châm hút mà lại bị đẩy.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nghịch từ  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất dùng làm phim ảnh, giấy ảnh. Thường là muối bạc halogenua, khi chịu tác dụng của ánh sáng thì bạc kim loại kết tủa thành những chỗ đem trên phim.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nhạy sáng, chất cảm quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Để giải thích các hiện tượng nhiệt, một số nhà vật lý thế kỷ 16 giả thiết có một chất không có khối lượng, gọi là chất nhiệt, thấm vào các vật nhiều hay ít, làm cho các vật ấy nóng nhiều hay ít. Gải thiết sai lầm này mãi đến thế kỷ 19 mới bị loại bỏ.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất nhiệt  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất phát ra ánh sáng trông thấy khi bị kích thích (nhận năng lượng của electron, hoặc của bức xạ tử ngoại). Nếu sau khi ngừng kích thích, sự phát quang còn tiếp tục trong một thời gian đáng kể (t > 10-6 giây) thì ta có chất lân quang.

Chất phát quang, nhất là chất lân quang, được dùng để làm màn đèn hình, màn tia X, đèn ống v.v.…

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Chất phát quang  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 31 Tháng bảy 2008, 11:01 AM
 

Chất rắn ở trạng thái trong đó nó có thể tích và hình dạng xác định. Phải tác dụng lực lên chất rắn mới làm nó biến dạng. Biến dạng này có thể là đàn hồi, (mất đi sau khi lực ngoài thôi tác dụng), hoặc là dẻo (vẫn còn một phần sau khi lực ngoài thôi tác dụng). Biến dạng đàn hồi của vật rắn tuân theo định luật Húc.

Chất rắn có thể là chất kết tinh (có cấu trúc tinh thể), hoặc chất vô định hình.

Chất rắn tuyệt đối. Chất rắn hoàn toàn không biến dạng khi chịu lực; đây chỉ là mô hình lý tưởng, các chất rắn thực bao giờ cũng biến dạng khi chịu lực.

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: chất rắn  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ năm, 22 Tháng một 2009, 09:17 PM
 

Chất sắt từ

1/ Định nghĩa:

Sắt từ là các chất có từ tính mạnh, hay khả năng hưởng ứng mạnh dưới tác dụng của từ trường ngoài, mà tiêu biểu là sắt (Fe), và tên gọi "sắt từ" được đặt cho nhóm các chất có tính chất từ giống với sắt. Các chất sắt từ có hành vi gần giống với các chất thuận từ ở đặc điểm hưởng ứng thuận theo từ trường ngoài. Tính sắt từ dùng để chỉ thuộc tính (từ tính mạnh) của các chất sắt từ.

Chất sắt từ là một trong những vật liệu được sử dụng sớm nhất trong lịch sử loài người, với việc sử dụng các đá nam châm làm la bàn hoặc làm các vật dụng hút sắt théptừ hơn 2000 năm trước, xuất phát là từ Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại.

2/ Các tính chất đặc trưng của chất sắc từ:

Các chất sắt từ như sắt (Fe), côban (Co), niken (Ni), gađôli (Gd)... là các chất sắt từ điển hình. Các chất này là các chất vốn có mômen từ nguyên tử lớn như sắt là 2,2 μB, Gd là 7 μB... và nhờ tương tác trao đổi giữa các mômen từ này, mà chúng định hướng song song với nhau theo từng vùng, còn gọi là các đômen từ tính. Mômen từ trong mỗi vùng đó gọi là từ độ tự phát - có nghĩa là các chất sắt từ có từ tính nội tại ngay khi không có từ trường ngoài. Đây là các nguồn gốc cơ bản tạo nên các tính chất của chất sắt từ.

Hình ảnh các đômen từ của màng CoIr chụp ở chế độ Fresnel trên kính hiển vi điện tử truyền qua.

a/Hiện tượng từ trễ: Là một đặc trưng dễ thấy nhất ở chất sắt từ. Khi từ hóa một khối chất sắt từ các mômen từ sẽ có xu hướng sắp xếp trật tự theo hướng từ trường ngoài do đó từ độ của mẫu tăng dần đến độ bão hòa khi từ trường đủ lớn (khi đó các mômen từ hoàn toàn song song với nhau). Khi ngắt từ trường hoặc khử từ theo chiều ngược, do sự liên kết giữa các mômen từ và các đômen từ, các mômen từ không lập tức bị quay trở lại trạng thái hỗn độn như các chất thuận từ mà còn giữ được từ độ ở giá trị khác không. Có nghĩa là đường cong đảo từ sẽ không khớp với đường cong từ hóa ban đầu, và nếu ta từ hóa và khử từ theo một chu trình kín của từ trường ngoài, ta sẽ có một đường cong kín gọi là đường cong từ trễ. Có nhiều cơ chế khác nhau để tạo ra hiện tượng trễ như cơ chế dịch chuyển vách, cơ chế quay mômen từ, cơ chế hãm sự phát triển của các mầm đảo từ... Và trên đường cong từ trễ, ta sẽ có các đại lượng đặc trưng của chất sắt từ như sau:

- Từ độ bão hòa: Là từ độ đạt được trong trạng thái bão hòa từ, có nghĩa là tất cả các mômen từ của chất sắt từ song song với nhau.

- Từ dư: Là giá trị từ độ khi từ trường được khử về 0.

- Lực kháng từ: Là từ trường ngoài cần thiết để khử mômen từ của mẫu về 0, hay là giá trị để từ độ đổi chiều. Đôi khi lực kháng từ còn được gọi là trường đảo từ.

-Từ thẩm: Là một tham số đặc trưng cho khả năng phản ứng của các chất từ tính dưới tác dụng của từ trường ngoài. Từ thẩm của các chất sắt từ có giá trị lớn hơn 1 rất nhiều, và phụ thuộc vào từ trường ngoài.

- Nhiệt độ Curie: Là nhiệt độ mà tại đó, chất bị mất từ tính. Ở dưới nhiệt độ Curie, chất ở trạng thái sắt từ, ở trên nhiệt độ Curie, chất sẽ mang tính chất của chất thuận từ. Nhiệt độ Curie là một tham số đặc trưng cho chất sắt từ, ví dụ như: Sắt: 1043 K; Côban: 1388 K; Niken: 627 K…

b/ Dị hướng từ tinh thể: Là năng lượng liên quan đến sự định hướng của các mômen từ và đối xứng tinh thể của vật liệu. Do tính dị hướng của cấu trúc tinh thể, sẽ có sự khác nhau về khả năng từ hóa khi ta từ hóa theo các phương khác nhau, dẫn đến việc vật liệu có phương dễ từ hóa, gọi là trục dễ (từ hóa) và phương khó từ hóa (gọi là trục khó). Năng lượng dị hướng từ tinh thể là năng lượng cần thiết để quay mômen từ trục khó sang trục dễ. Hằng số dị hướng từ tinh thể là các đại lượng đặc trưng cho các chất sắt từ.

3/ Tương tác trao đổi và đômen từ:

Tương tác trao đổi là tương tác được giả thiết theo lý thuyết sắt từ Heisenberg nhằm giải thích sự định hướng song song của các mômen từ trong vật liệu. Tương tác trao đổi có bản chất là tương tác tĩnh điện đặc biệt giữa các điện tử tạo ra sự định hướng song song của các spin khi các điện tử ở một khoảng cách đủ gần sao cho các hàm sóng của chúng phủ nhau để cực tiểu hóa năng lượng của hệ. Năng lượng tương tác trao đổi được cho bởi công thức:

với S1, S2 là các spin, J là tích phân trao đổi, cho bởi:

J mang giá trị dương khi các spin song song nhau và âm khi các spin phản song song. Ψ là hàm sóng của các điện tử.

Đômen từ: Nhờ có tương tác trao đổi, các mômen từ của chất sắt từ sắp xếp hoàn toàn song song với nhau, nhưng không phải trong toàn bộ vật thể mà trong từng vùng, gọi là các miền từ hóa, hay các đômen từ. Trong mỗi đômen, các mômen từ song song với nhau tạo nên từ độ tự phát của chất sắt từ, nhưng trong toàn vật thể ở trạng thái khử từ thì mômen từ của các đômen sẽ sắp xếp hỗn loạn nên tổng từ độ trong toàn khối vẫn bằng 0. Khi có từ trường ngoài, do các mômen từ có xu hướng bị quay theo từ trường nên