Phiên bản in thân thiện
Ai đã tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn? Ai đã tìm ra mối liên hệ giữa khối lượng và năng lượng? v.v... Có lẽ, trong chúng ta - những người yêu thích khoa học nói chung và vật lý nói riêng luôn đặt ra nhiều câu hỏi tương tự như thế. Tại sao chúng ta không tìm cách trả lời những câu hỏi này, hay trả lời thay cho những người khác. Đó là mục đích của phần thuật ngữ "Các nhà vật lý". Nơi các bạn cùng chia sẽ những câu trả lời "Ai?", "Khi nào?" ,"Làm thế nào?", "Vì sao?" v.v... liên quan đến vật lý.


Duyệt bảng chú giải thuật ngữ theo bảng chữ cái

riêng biệt | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | F | G | H | I | J | K
L | M | N | O | Ô | Ơ | P | Q | R | S | T | U | Ư | V
W | X | Y | Z |

Trang:  1  2  3  4  5  (Tiếp theo)

HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ hai, 16 Tháng sáu 2008, 10:24 PM
 

volta

Rất nhiều khoa học gia trong chuyên ngành dòng điện và từ trường đã có những phát minh quan trọng trong khoảng cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18. Có thể bao gồm một số nhà vật lý học tiêu biểu như Charles Augustin de Coulomb (đơn vị điện tích), André Ampère (current-I), Georg Ohm (resistance-R), James Watt (công suất-W), and James Joule (nhiệt lượng-J) . Hoâm nay, nhoùm chuùng toâi xin giôùi thieäu veà 2 nhà khoa học người Ý Luigi Galvani và Alexandro Volta – nhöõng boä oùc vó ñaïi đã đặt nền móng cơ bản cho việc phát triển pin điện hoá (galvanic cells).

Nhà vật lý học Alexandre Volta sinh năm 1745 tại Côme (Italia, từ thuở nhỏ bị chê là không có năng khiếu gì, thình lình chứng tỏ là một đầu óc thông minh đáng kinh ngạc. Do lòng say mê Vật Lý thúc đẩy, ông đã đem lại cho chúng ta lọai pin điện mang tên ông. Ông viết nhiều tác phẩm mà 2 quyển chính là:”Các bức thơ nói về tính nhạy lửa của khí bốc từ các đầm lầy” và “Thư cho Banks nói về cấu tạo của Pin Volta”.

THỜI THƠ ẤU

“Nếu nó nói khó khăn thì ít ra nó cũng không nói những điều ngu xuẩn”

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯

-“Ông ơi, tại sao thằng bé này vẫn chưa biết nói? Các anh nó có ai nói chậm như nó đâu!”.

Ngừơi chồng trấn an vợ:

-“Thôi, bà đừng khổ tâm như thế, Alexandre sau này chắc không được năng khiếu thiên phú gì đâu, nhưng tôi thấy mắt nó linh họat, và nếu nó nói khó khăn thì ít ra cũng không nói những điểu ngu xuẩn”.

Đúng thế, ở lứa tuổi má các cậu bé khác cắp sách đến trường, Alexandre Volta đã phải khó nhọc lắm mới nói được vài tiếng. Thế nhưng, kể từ ngày đó, Volta tiến bộ thật nhanh. Chẳng mấy chốc cậu bé biết đọc và rồi để lộ một óc hiếu ký hiếm thấy. Khác hẳn các em thần đồng khác chỉ có tính hiếu kỳ ngòai mặt, Volta có óc quan sát và biết suy nghĩ. Song trí tưởng tượng quá phong phú của cậu thường đẩy cậu vào các ảo tưởng của mấy chuyện ngụ ngôn và thi ca. Chính vì thế mà hồi 12 tuổi, cậu súyt chết đuối khi phóng mình xuống một đầm nước để tìm một mạch vàng mà mọi người quả quyết là có. Mồ côi cha, cậu cùng với me và các chị nương than tại nhà người cậu làm thầy tu tên Gattoni. Từ đấy, Volta tự xem như có bổn phận phải luôn luôn đứng đầu lớp. Mặc dầu hết sức say mê môn khoa học, cậu vẫn không chút xao nhãng các môn văn chương và triết học và ngòai ra còn sáng tác thơ bằng chữ LaTinh và chữ Pháp.

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Luật sư hay thầy tu!

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Ông cậu Gattoni có lần cho bíêt ý định của mình:

-“Chúng ta hãy cho Volta trở thành một luật sư”

Nhưng vị linh mục dòng Tên, Bonesi, thầy dạy của Gattoni, bác ngay:

-“Không được. Cậu bé đã được thương đế ban cho đủ mọi đức tính để trở thành một thầy tu”.

Nhưng cả hai người đều lâm. Thiên chức của Volta không đẩy cuộc đời cậu về các Pháp Án Tập cũng chẳng đưa cậu vào cuộc sống thanh bạch của nhà dòng.

Ngược lại, tính hiếu kỳ của tuổi trẻ đối với thế giới xung quanh và những thú vui của nó đã biến đổi, nơi con người cậu, thành một nhu cầu mãnh liệt đòi hỏi phải nắm lấy tất cả các bí mật của tạo hóa. Hồi thời Volta còn niên thiếu, thử hỏi khoa Vật Lý học đã tiến được đến đâu? Có lẽ cũng như ngành khoa học không gian cách đây một thế kỷ, nghĩa là hết sức thô sơ. Tuy nhiên, môn Từ học và Điện học- mà từ thời của Pline, các nhà bác học không hề để tâm đến, trừ vài trường hợp ngọai lệ- bỗng trở thành vấn đế thời sự. Sự tiếp tục các cuộc khảo cứu đã dẫn đến sự phát mịnh ra hiện tượng tọng điện( được chứng minh bằng thí nghiệm cái chai lừng danh của Leyde). Bose đã kích thích đuợc thúôc sung bằng một tia điện và Winckler sáng chế ra máy tính điện.

Volta được cái may mắn là tìm thấy nơi thầy tu Gattoni một ngừơi bạn và một người bảo hộ. Gattoni đã đặt dưới quyền sử dụng của nhà khảo cứu trẻ tuổi tất cả những phương tiện cần thiết đễ giúp chàng dồn mọi nỗ lực vào các cuộc tìm kiếm khoa học và cũyng đễ đọat những mảnh bằng. Thế nhưng, văn bằng không phải là điều mà Volta hằng mong ứơc…

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Trực giác khoa học!

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Sau những cố gắng hòai công nhằm hòa giải các thuýêt đã biết, nhà bác học trẻ tuổi chú tâm vào cá ứng dụng trực tiếp của điện học. Những vắn kiện nay vẫn còn nổi tíêng chứng tỏ hoạt động của chàng. Đó là những văn kiện liên lạc gởi cho nhà điện học Beccaria và nhà vạn vật học Spallanzani, được xem như những nhà chuyên môn vĩ đại nhất của thời họ trong hai lĩnh vực này. Còn lúc này Volta chỉ mới 24 tuổi!

Kể từ 1796 trở đi, các trực giác của thiên tài Volta nối tiếp nhau: Chính các trực giác này đã đóng một vai trò quyết định vào những cuộc khảo cứu và khám phá của những năm kế tiếp. Các khám phá này là kết quả của bếit bao kinh nghịệm rút từ các sự tHâu lượm mới mẻ trước.

Dẫu cho Alexandre Volta không sáng chế ra loại pin điện mang tên ông, ông cũng vẫn được xếp vào hàng đầu trong lịch sử Vật Lý nhờ phát minh “Bình phát cảm ứng điện vĩnh cửu” (1775) mà ông gọi là nguồn gốc các động cơ cảm ứng từ tương lai. Ngòai ra, nhân lọai còn mang ơn ông đã sáng chế ra khí nhiên kế, mà ngaỳ nay dùng để đo lượng oxygen có trong không khí; máy đọng điện (1782) và máy điện nghiệm. Cũng chính ông là người đầu tiên khám phá ra khí bốc từ các đầm lầy, mà ngày nay gọi là khí mêtan –CH4.

Trực giác khọa học đã dẫn ông đến các phát minh khoa học và khám phá ấy như thế nào?

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Chiếc đùi ếch và phát minh vĩ đại

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯

dui ech

Vào năm 1776, một bữa nọ Volta đị dạo bờ Đại hồ. Ông đang đưa mắt nhìn những cây sậy ýêu ớt mọc dưới mé nứơc thì thình lình những bọt khí xuất hiện dứơi bùn đập vào mắt ông. Liền đó ông liền nảy sinh ý tưởng rằng các bọt khí đó chắc phải là một chất gì đó cháy được. Rồi khi trở lại nơi đó, ông tìm cách hứng lấy một ít khí ấy và đưa đến gần ngọn lửa. Điều ông nghi ngờ đã thành sự thật.

Khám phá này cùng các ứng dụng của nó đã gây thêm tiếng tăm cho Alexandre Volta và sau đó ông đã được mời giữ chức giáo sư Vật Lý học thực nghiệm tại Đại học Parie, nơi đây ông đã dạy suốt 30 năm.

Lúc bấy giờ Louis Galvani (1737- 1798), một nhà sinh học, đang dạy môn giải phẫu học tại Đại học Bologne. Nhà bác học này không hề bỏ qua cuộc khảo cứu nào của Volta, vì chính ông cũng hết sức muốn tìm hiểu các hiện tựợng do điện gây ra nơi lòai thú. Ông nghiệm thấy rằng những con ếch bị giết do co rút bắp thịt khi có kim lọai chạm vào.Thí nghiệm của ông bắt đầu từ một ngày kia, sau khi tan lớp, Galvani đem nửa thân sau của một con ếch đã lột da với những dây thần kinh lưng, treo vào một lan can sắt của phòng học. Ông ta ngạc nhiên khi thấy mỗi lần chân ếch đong đưa đụng vào lan can sắt thì bắp thịt của chân ếch bị kích thích và co giật lại. Galvani cố ý đẩy chân ếch đụng vào lan can nhiều lần nữa và cứ mỗi lần đụng như vậy thì chân ếch vẫn có cử động co giật. Ông đóan là do điện sinh ra và chính bắp thịt chân con ếch tự sinh ra điện. Theo ông, trong con ếch luôn có hai thứ điện. Khi kim loai sắt và đồng chen vào thì trạng thái điện tích trong con vật bị xao động và sự co giật được nảy sinh. Ông còn cho bíêt rằng nếu kim lọai dung là kẽm và đồng sự kích thích sẽ mạnh hơn.

Volta thử lại thí nghiệm của Galvani và lúc đầu chấp nhận ý kíên trên. Nhưng về sau, chính Volta đã chứng minh sự lầm lẫn của Galvani. Theo Volta thì cơ thể con vật chỉ là một chất dẫn điện thường. Chứng điện sinh ra trong các kim lọai dị chất đã kích thích các dây thần kinh, và làm họat động các cơ. Nói cách khác con vật không thể vừa là chủ động vừa là bị động. Con vật chỉ bị động do điện sinh ra từ bên ngoài nó.

Và để chứng minh sự lầm lẫn của sự Galvani, Volta tạo ra điện với một thanh đồng và một thanh kẽm mà không cần có cơ thể con ếch.

Ngày 6/11/1801, ở Paris, Volta trình diện phát minh này với Napoleon Bonaparte.

Đệ nhất tổng tài Napoleon Bonaparte đón chào niềm nở nhà bác học Ý và mong muốn thấy sự họat động của cái vật kỳ lạ.

-“Kính ngài Đệ Nhật tổng tài, vật mà ngài thấy đây chỉ là một chuỗi dĩa nhỏ đồng và kẽm để chồng liên tục lên nhau với 1 mảnh tròn nhỏ thấm acid chen giữa. Tất cà đều bọc sáp bên ngòai để acid khỏi bay hơi.”

-“Thế còn hai đầu dây long thong này?”

-“Một dây gắn vào điã kẽm ở trên cùng và một dây gắn vào điã đồng ở dứơi chót.”

Và đây… vừa nói, Volta vừa chạm hai đầu dây gắn vào nhau thì một tia lửa điện văng ra.

-“Thật là huyền diệu!”- Napoleon nhiệt liệt tán thưởng.

Với hình dáng của một trụ đĩa chồng lên nhau chúng ta gọi đó là Pin ( Pile=chồng lên nhau thành một cột”

pin volta

Đây là máy phát điện đầu tiên của nhân lọai.

Cách biện luận của Volta mang đến kết quả hết sức hữu ích vì nhờ đó mới có hai phát minh rất quan trọng, thứ nhất là pin Volta và thứ nhì là nền tảng cho khoa điện sinh lý học.

Sau đó, Volta tự ép mình làm việc thật vất vả để hòan tất phát minh pin điện của mình. Ông bắt tay vào những thí nghiệm về các kim loại và hơn thế nữa, về một số lớn chất lỏng. Các thí nghiệm đã giúp ông thíêt lập nguyên lý theo đó các sức điện động công thêm vào nhau khi chúng được cấu tạo từng cặp kim loại ghép với nhau theo cùng một thứ tự. Vd: Đồng- Acid, Kẽm- Đồng, Acid- Kẽm,…

Danh từ pile/ pin gốc từ Latin “pilum” có nghai 4là cột trụ. Qủa thật pin Volta là cây cột trên đó người ta xây đắp cả tòa nhà của khoa Điện Học hiện đại ngày nay.

Ông đã được Hàn Lâm viện Pháp ân thưởng một huy chương vàng và từ bốn phương, các nhà thong thái ngỏ lời mời ông đến. Nhưng đáng quý hơn cả, đó là sự đóng góp to lớn của ông vào sự phát triển lâu dài của nhân loại

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
BẢN CHẤT DÒNG ĐIỆN TRONG PIN ĐIỆN HOÁ

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
1/ PIN VOLTA

Pin Volta có c ấ u t ạ o:

1 c ự c b ằ ng k ẽ m (Zn)

1 c ự c b ằ ng đ ồ ng (Cu)

Cùng nhúng vào dung d ị ch H2SO4.

Cơ chế xuất hiện suất điện động:

Thứ nhất , theo cơ chế phản ứng hoá học, Cu không tác dụng với H2SO4, mà chỉ có H+ đến lấy electron của cực Cu,nên Cu tích điện dương.

2H+ + 2eH2

Thứ hai , do tác dụng hoá học, các ion kẽm Zn2+ từ thanh kẽm đi vào dung dịch H2SO4 làm cho lớp dung dịch tiếp giáp thanh kẽm tích điện dương. Thanh kẽm thừa electron nên tích điện âm.

ZnZn2+ + 2e

Thứ ba , xét thanh kẽm, lớp tiếp giáp tích điện dương và thanh kẽm tích điện âm, nên đã hình thành điện trường hướng từ ngoài vào trong.

Nhận xét: Đây là điện trường cản, ion Zn2+ không chỉ không thể chuyển động ngược chiều điện trường mà còn có sự dịch chuyển ngược lại của ion Zn2+ từ dung dịch vào thanh kẽm
Cân bằng hoá học thiết lập khi số ion ra khỏi thanh kẽm bằng số ion đi vào thanh kẽm.
Theo thực nghiệm, hiệu điện thế điện hoá vào khoảng 1.1 V.

2/ PIN GALVANIpin cu-zn

Trước phản ứng

Sau phản ứng

Pin Galvani

1 c ự c b ằ ng đ ồ ng (Cu) nhúng vào dung d ị ch CuSO4

1 c ự c b ằ ng k ẽ m (Zn) nhng vo dung d ị ch ZnSO4

1 c ầ u mu ố i b ằ ng gi ấ y đ đ ược tẩm KNO3 hoặc KCl

B ả n ch ấ t dòng điện trong pin Galvani:

Thứ nhất, theo cơ chế phản ứng hoá học, ở thanh kẽm diễn ra sự oxi hoá, thanh kẽm tích điện dương

ZnZn2+ + 2e

Thứ hai, ở thanh đồng diễn ra sự khử, thanh đồng tích điện âm.

Cu2+ + 2eCu

Xuất hiện điện trường và suất điện động.

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
SỰ RA ĐI CỦA MỘT THIÊN TÀI

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Năm 1823, cái chết đau đón của một đứa con đã gây cho ông xúc động qua 1mạnh khếin những ngày còn lại của ông trên cõi đời càng rút ngắn hơn. Vào hôm 5/03/1827, một ngôi sao sáng trên thế giới khoa học đã tắt lịm. Thiên tài Volta ra đi đã để lại cho thế hệ sau một hứơng đi mới, để thay đổi sâu rộng cả một thế giới mà ông không bao giờ ngờ tới cũng như không bao giờ có thể được chứng kiến.

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯

MỘT SỐ MỐC THỜI GIAN QUAN TRỌNG TRONG CUỘC ĐỜI ALEXANDRO VOLTA

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
1774: ông trở thành giáo sư vật lý tại trường Khoa học hoàng gia ở Cosmo và trong những năm tiếp theo ông phát minh ra Electrophorus: thiết bị tạo ra dòng điện nhờ ma sát giữa đĩa và một bản kim loại.

1776-1777: ông tập trung nghiên cứu hoá học, nghiên cứu dòng điện trong chất khí và lập những thí nghiệm như sự phóng điện trong bình kín.

1779: ông trở thành giáo sư khoa vật lý trường đại học Pavia trong suốt 25 năm.

1800: Volta phát minh pin điện hoá (pin Volta), cha đẻ của pin hoá học hiện đại, tạo ra dòng điện ổn định.

Để tưởng nhớ phát minh vĩ đại, 1801, Napoleon đã phong Volta là bá tước, và tên ông được lấy làm đơn vị của hiệu điện thế.

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯

 
Từ khoá:
1 Lời bình luận Thêm chú thích: Alexander Volta  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ hai, 16 Tháng sáu 2008, 10:24 PM
 

ANDRE MARIE AMPERE (1775 - 1836)

ampe

Ampere , nhà toán học và nhà vật lý học Pháp , sinh tại Poleymieux, gần thành phố Lyon ngày 22 tháng 1 năm 1775, là con một nhà buôn tơ lụa khá giả. Từ nhỏ, Ampere đã say mê đọc sách, tự học nhiều hơn là đi đến trường và có một trí nhớ ít ai sánh kịp. Năm 10 tuổi, Ampere đã thông thạo tiếng Latinh và năm 18 tuổi, đã học gần hết các tác phẩm về vật lý học, toán học, triết học xuất bản từ trước đến thời đó. Cũng năm này, cha ông bị Cách mạng xử tử, gia đình trờ nên sa sút, bản thân ông cũng bị tình nghi là chống cách mạng. Ampere phải kiếm sống một cách chật vật bằng tiền dạy học thuê và vẫn kiên trì nghiên cứu môn toán. Năm 1799, ông cưới vợ là Julie Caron. Ba năm sau, ông công bố công trình đầu tiên của mình về lãnh vực toán xác suất, đó là cuốn “Lý thuyết toán học trong chơi bạc “. Cuốn sách này bán rất chạy và ông được bổ nhiệm giáo sư toán học ở trường trung học Lyon mặc dù ông không có học vị, bằng cấp gì.

Tài năng của Ampere ngày càng bộc lộ, ông gắng sức làm việc và nghiên cứu, nhất là về vật lý học. Đặc biệt ông là một trong những người đã đặt nền móng cho ngành khoa học mới về các hiện tượng điện từ gọi là “Điện động lực học “. Năm 1820, ông nêu ra “giả thuyết Ampere”, quy các hiện tượng từ về các tương tác điện động lực học. Năm 1826, các kết quả nghiên cứu này được Ampere tổng kết trong công trình quan trọng mang tên “Lý thuyết toán học các hiện tượng điện động học, rút ra thuần túy bằng thí nghiệm”, lý thuyết của Ampere đã đưa ra khái niện cơ bản của điện học là dòng điện và hiệu điện thế tuy chưa thật rõ ràng. Ông còn phát hiện ra lực điện từ, tìm ra bản chất về các dòng điện trong phân tử, phát minh ra định luật về tương tác cơ học của các dòng điện tức là định luật Ampere và là người đầu tiên xây dựng lý thuyết về từ.

Ampere cũng là một nhà thực nghiệm tài ba. Ông đã thiết kế và tự chế tạo nhiều thiết bị thí nghiệm sau này là nền tảng của những dụng cụ đo điện như ampekế, vôn kế, ôm kế. Ông là cha đẻ của nam châm điện (cùng với Arago), xuyến từ…và còn nghiên cứu cả hóa học và triết học nữa. Những thành tựu này đã nâng Ampere lên địa vị viện sĩ Viện hàn lâm khoa học pháp, giáo sư trường Đại học Bách khoa Paris (1840), giáo sư triết học trường Đại học Văn khoa, thanh tra ngành đại học Pháp và giáo sư vật lý Pháp quốc tế học viện (College de France,1824)

Vào những năm cuối đời tuy đã già yếu, Ampere vẫn gắng sức biên soạn một bộ sách lớn là “Luận về triết học của khoa học”. Sách đang soạn dở dang thì Ampere bị đau phổi và mất tại thành phố Marseille ngày 10 tháng 7 năm 1836 hưởng thọ 61 tuổi. Các nhà bác học đương thời đã gọi Ampere là “Newton của điện học “ và tên ông được dùng để đặt cho đơn vị cường độ dòng điện .

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: ANDRE MARIE AMPERE  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ hai, 16 Tháng sáu 2008, 10:24 PM
 

FRANKLIN

Chủ tịch Hội đồng Hành pháp Tối cao Pennsylvania Thứ 6

Nhiệm kỳ
17851788

Tiền nhiệm

John Dickinson

Kế nhiệm

Thomas Mifflin

Thứ 23Người phát ngôn Hạ viện Pennsylvania

Nhiệm kỳ
1765 – 1765


Sinh

17 tháng 1 năm 1706
Boston, Massachusetts

Mất

17 tháng 4 năm 1790
Philadelphia, Pennsylvania

Đảng

Không

Vợ/chồng

Deborah Read

Nghề nghiệp

Nhà khoa học
Tác gia
Nhà chính trị

Benjamin Franklin (17 tháng 011706 - 17 tháng 41790) là một trong những người thành lập đất nước nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in, một triết gia, một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, một nhà ngoại giao hàng đầu. Trong lĩnh vực khoa học, ông là gương mặt điển hình của lịch sử vật lý vì những khám phá của ông và những lý thuyết về điện, ví dụ như các khám phá về hiện tượng sấm, sét. Với vài trò một chính trị gia và một nhà hoạt động xã hội, ông đã đưa ra ý tưởng về một nước Mỹ [1] và với vai trò một nhà ngoại giao trong thời kỳ Cách mạng Mỹ, ông đã làm cho liên minh là Pháp giúp đỡ để có thể giành độc lập.

Franklin nổi tiếng về sự ham hiểu biết của ông, về các tác phẩm của ông (có tính phổ biến, tính chính trị và khoa học) và tính đa dạng của các lĩnh vực mà ông quan tâm. Là một nhà lãnh đạo của Thời đại Khai Sáng, ông đã có được công nhận, ủng hộ của cả các nhà khoa học và giới trí thức khắp Châu Âu. Ông đã thành công trong việc bảo đảm về quân sự cũng như trợ giúp tài chính của Pháp là một đóng góp to lớn cho sự thắng lợi của cách mạng chống lại Anh. Ông cũng là người đã phát minh ra cột chống sét. Ông là người sớm đề xướng về sự thống nhất của các thuộc địa. Các nhà sử gia gọi ông là \"Người Mỹ đầu tiên\"

Sinh ra ở Boston, Massachusetts, Franklin đã học nghề in từ anh trai của ông và trở thành một chủ biên tập báo, một thọ in và một thương gia rất giầu có ở Philadelphia. Ông đã có nhiều năm sống ở Anh và xuất bản ấn phẩm nổi tiếng Poor Richard\'s Almanac (Alamac của Richard nghèo) và ấn phẩm Pennsylvania Gazette (công báo Pennsylvania). Ông đã thành lập cả thư viện côngsở cứu hoả đầu tiên tại Mỹ cũng như Junto, một câu lạc bộ thảo luận chính trị. Trong giai đoạn này ông đã viết bài ủng hộ tiền giấy, chống các chính sách của những người theo chủ nghĩa trọng thương, như Luật sắt năm 1750, và cũng phác thảo Kế hoạch Albany của Liên minh năm 1754, sau này sẽ tạo ra một cơ sở lập pháp cho thuộc địa; thể hiện sự nhận thức từ rất sớm của ông về việc các thuộc địa tồn tại tự nhiên với tư cách một đơn vị chính trị.

Franklin đã trở thành một anh hùng quốc gia tại Mỹ khi ông dẫn đầu nỗ lực đòi Nghị viện Vương quốc Anh huỷ bỏ một Đạo luật tem thư gây mất lòng dân. Với tư cách một nhà ngoại giao, ông được nhiều người Pháp kính trọng với tư cách một vị bộ trưởng Mỹ tại Paris, một nhân vật quan trọng trong việc phát triển các quan hệ thân thiện Pháp-Mỹ. Từ năm 1775 tới năm 1776, Franklin là Tổng giám đốc Bưu điện thuộc Đại hội Thuộc địa và từ năm 1785 tới năm 1788 là Chủ tịch Hội đồng Hành pháp Tối cao Pennsylvania. Tới cuối đời, ông trở nên một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất ủng hộ Chủ nghĩa bãi nô.

Franklin rất quan tâm tới khoa học và kỹ thuật, ông đã thực hiện những thí nghiệm và phát minh điện nổi tiếng— ngoài cột thu lôi — bếp lò Franklin, ống thông tiểu, chân nhái, harmonica, và kính hai tròng. Ông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Đại học PennsylvaniaTrường Franklin và Marshall. Ông đã được bầu làm chủ tịch đầu tiên của Hội Triết học Mỹ, hội học thuật đầu tiên tại Hoa Kỳ, năm 1769. Franklin nói thành thạo năm thứ tiếng. Ông thường được công nhận là người đa tài.

Tiểu sử

Tổ tiên

Cha Franklin, Josiah Franklin, sinh tại Ecton, Northamptonshire, Anh Quốc ngày 23 tháng 12 năm 1657, con trai của Thomas Franklin, một thợ rènnông dân, và Jane White. Mẹ ông, Abiah Folger, sinh tại Nantucket, Massachusetts, ngày 15 tháng 8 năm 1667, con của Peter Folger, một chủ cối xay và giáo viên trường làng cùng vợ là Mary Morrill, từng là một người hầu hợp đồng. Một nhánh của dòng họ Folgers, J. A. Folger, người sáng lập Folgers Coffee ở thế kỷ 19.

Khoảng năm 1677, Josiah lấy Anne Child tại Ecton, và trong vài năm sau đó sinh ba người con. Những người anh em nửa dòng máu đó của Benjamin Franklin gồm Elizabeth (2 tháng 3 năm 1678), Samuel (16 tháng 5 năm 1681), và Hannah (25 tháng 5 năm 1683).

Ở một thời điểm nào đó nửa cuối năm 1683, nhà Franklin rời Anh tới Boston, Massachusetts. Họ sinh thêm nhiều người con nữa tại Boston, gồm Josiah Jr. (23 tháng 8 năm 1685), Ann (5 tháng 1 năm 1687), Joseph (5 tháng 2 năm 1688), và Joseph (30 tháng 6 năm 1689) (người con đầu tiên tên Joseph chết ngay sau khi sinh).

Vợ của Josiah, Anne, mất tại Boston ngày 9 tháng 7 năm 1689. ông cưới Abiah Folger ngày 25 tháng 11 năm 1689 tại Old South Church ở Boston và được Samuel Willard làm lễ.

Josiah và Abiah có 10 người con: John (7 tháng 12 năm 1690), Peter (22 tháng 12 năm 1692), Mary (26 tháng 9 năm 1694), James (4 tháng 2 năm 1697), Sarah (9 tháng 7 năm 1699), Ebenezer (20 tháng 9 năm 1701), Thomas (7 tháng 12 năm 1703), Benjamin (17 tháng 1 năm 1706), Lydia (8 tháng 8 năm 1708), và Jane (27 tháng 3 năm 1712).

Tuổi thơ

Chữ ký của Benjamin Franklin

Benjamin Franklin sinh tại Milk Street ở Boston ngày 17 tháng 1 năm 1706[6]được rửa tội tại Old South Meeting House. Cha ông, Josiah Franklin, là một người làm nến, xà phòng và bán hàng tạp hóa, người vợ thứ hai của ông, Abiah Folger, là mẹ của Benjamin. Hai cuộc hôn nhân của Josiah mang lại 17 người con; Benjamin là con thứ mười lăm và là con trai nhỏ tuổi nhất. Josiah từng muốn Ben tới trường dòng nhưng chỉ có đủ tiền cho ông theo học trong hai năm. Ông đã theo học tại Trường Latinh Boston nhưng không tốt nghiệp; ông tiếp tục học bằng cách đọc ngấu nghiến những cuốn sách có được. Dù \"cha mẹ ông đã muốn coi nhà thờ là một công việc\" cho Franklin, sự học của ông chấm dứt khi ông lên mười. Sau đó ông làm việc cho cha trong một thời gian và khi 12 tuổi ông bắt đầu trở thành thợ học việc cho anh trai là James, một người làm nghề in. Khi Ben 15 tuổi, James đã thành lập tờ New England Courant, tờ báo độc lập thật sự đầu tiên tại các thuộc địa. Khi bị từ chối ý muốn tham gia viết bài cho tờ báo này, Franklin đã đặt ra bút danh \'Mrs. Silence Dogood\', người có vẻ là một góa phụ trung niên. Những bài viết của ông được đăng trên báo và trở thành chủ đề của một cuộc tranh luận trong thị trấn. Cả James và những độc giả tờ Courant đều không biết sự thực, và James đã không hài lòng với Ben khi khám phá ra rằng người viết những bài đó là em trai của mình. Franklin bỏ chân học việc khi không được phép và vì thế đã trở thành một kẻ trốn chạy.

Ở tuổi 17, Franklin bỏ đi tới Philadelphia, Pennsylvania, tìm kiếm một khởi đầu mới tại một thành phố mới. Khi mới đến ông làm việc cho nhiều tiệm in quanh thị trấn. Tuy nhiên, ông không hài lòng với những viễn cảnh trước mắt. Sau vài tháng, tuy đang làm việc trong một nhà in, Franklin bị vị Thống đốc Pennsylvania Ngài William Keith thuyết phục để tới London, bề ngoài là để mua số thiết bị cần thiết cho việc thành lập một tờ báo mới tại Philadelphia. Phát hiện những lời hứa hẹn của Keith về việc hỗ trợ tờ báo là dối trá, Franklin đã làm việc như một thợ sắp chữ trong một tiệm in tại nơi ngày nay là Nhà thờ Thánh Bartholomew-the-Great tại Smithfield trong khu London. Sau đó, ông quay trở lại Philadelphia năm 1726 với sự giúp đỡ của một nhà buôn tên là Thomas Denham, ông đã cho Franklin một chân kế toán, và giữ tiệm của ông.

Năm 1727, Benjamin Franklin, ở tuổi 21, lập ra Junto, một nhóm “những thợ thủ công và nhà buôn tự nguyện và khao khát hy vọng tự cải thiện mình bằng cách cải thiện cộng đồng.\" Junto là một nhóm thảo luận những vấn đề của thời ấy; cuối cùng nó dẫn tới sự ra đời của nhiều tổ chức khác tại Philadelphia.

Đọc sách là một hoạt động thường xuyên của Junto, nhưng sách thời ấy rất hiếm và đắt. Các thành viên đã lập ra một thư viện, và ban đầu họ mang sách của mình tới góp. Cách này không hiệu quả, tuy nhiên Franklin tiếp tục với ý tưởng một thư viện mà độc giả sẽ phải trả tiền khi mượn sách, và các thành viên sẽ góp tiền của mình vào để mua sách. Ý tưởng này dẫn tới sự ra đời của Công ty Thư viện (Library Company), và hiến chương của Library Company of Philadelphia được Franklin soạn thảo năm 1731.

Ban đầu, những cuốn sách được giữ tại nhà những người thủ thư, nhưng vvào năm 1739 bộ sách được chuyển tới tầng hai tòa nhà State House của Pennsylvania, và hiện được gọi là Independence Hall. Năm 1791, một tòa nhà mới được xây riêng cho thư viện. Library Company phát triển mạnh mẽ không gặp phải bất kỳ sự cạnh tranh nào và sở hữu nhiều bộ sách vô giá như bộ sách của James Logan và người anh/em của ông là William. Library Company trong thế kỷ hai mươi là một thư viện nghiên cứu và tham khảo vĩ đại bởi nó có tới 500,000 cuốn sách hiếm, sách mỏng, giấy khổ rộng, hơn 160,000 văn bản chép tay và 75,000 hình hoạ.

Khi Denham chết, Franklin quay trở về với công việc trước kia của mình. Tới năm 1730, Franklin đã thành lập một nhà in của riêng mình và đã trở thành một chủ báo của tờ \"The Pennsylvania Gazette\". Tờ Gazette mang lại cho Franklin một diễn đàn để kêu gọi người dân thực hiện nhiều cuộc cải cách và sáng kiến tại địa phương thông qua những bài viết và nhận định. Cùng với thời gian, sự bình luận của ông, cùng với hình ảnh một nhà công nghiệp và trí thức trẻ tuổi, khiến ông có được sự tôn trọng lớn của mọi người; thậm chí sau khi Franklin đã có được danh tiếng với tư cách một nhà khoa học, một quan chức nhà nước, ông thường ký tên dưới những bức thư một cách khiêm tốn \'B. Franklin, Chủ nhà in\'

Franklin đề xướng kế hoạch xây dựng trụ sở Hội tam điểm năm 1731 và đã trở thành một nhân vật quan trọng của hội (Grand Master) năm 1734, báo hiệu sự thăng tiến nhanh chóng về danh vọng của ông tại PennsylvaniaCùng năm ấy, ông sửa chữa và xuất bản cuốn sách đầu tiên của Hội tam điểm tại Mỹ, một cuốn tái bản của cuốn Tổ chức của Hội tam điểm của James Anderson. Trong suốt cuộc đời mình Franklin luôn là một thành viên của hội.

Deborah Read

Năm 1724, khi đang học việc tại nhà của Read, Franklin đã yêu Deborah Read trước khi tới London theo yêu cầu của Thống đốc Keith. Thời gian đó, mẹ của Read không muốn con mình hứa hôn với một chàng trai mười bảy tuổi đang trên đường tới London. Chồng bà mới qua đời và Bà Read khước từ lời cầu hôn của Franklin

Khi Franklin đang ở London, Deborah đã lấy một người tên là John Rodgers. Đây là một quyết định sai lầm. Rodgers ngay sau đó trốn nợ và chạy tới Barbados, để Deborah lại. Vì không ai biết thân thế sau đó của Rodgers, và luật pháp cấm song hôn, Deborah không được chính thức tái hôn.

Franklin cũng có vấn đề của riêng mình. Năm 1730, ông công nhận một đứa con trai ngoài giá thú tên là William, ông này sau này sẽ là vị thống đốc bảo hoàng cuối cùng của New Jersey. Tuy không ai biết danh tính của mẹ William, có lẽ trách nhiệm nuôi dưỡng một đứa trẻ là một lý do khiến Franklin quyết định về ở chung với Deborah Read. William được Franklin nuôi dưỡng trong nhà mình và cuối cùng đã bất đồng ý kiến với bố về cách xử lý các thuộc địa với Hoàng gia Anh. Tuy nhiên, ông không sử dụng uy tín của cha để hô hào cho lập trường của mình.

Franklin đã tổ chức cưới thực tế (không hôn lễ) với Deborah Read ngày 1 tháng 9 năm 1730. Benjamin và Deborah Franklin có hai người con (ngoài William). Con cả là Francis Folger Franklin, sinh tháng 10 năm 1732; ông chết vì bệnh đậu mùa năm 1736. Sarah Franklin, biệt hiệu Sally, sinh năm 1743. Bà cưới Richard Bache, có bảy người con, và là người chăm sóc Franklin khi ông già cả.

Deborah sợ biển đồng nghĩa với việc bà không bao giờ đi cùng Franklin trên bất kỳ chuyến đi nào tới Châu Âu, dù ông đã nhiều lần yêu cầu.

Thành công với vai trò tác gia

Năm 1733, Franklin bắt đầu xuất bản cuốn sách nổi tiếng Poor Richard\'s Almanac (với cả những bài viết của riêng ông và vay mượn), cuốn sách này đã mang lại rất nhiều danh tiếng cho ông. Những câu châm ngôn trong cuốn sách đó như \"A penny saved is twopence dear\" (thường bị trích dẫn sai thành \"Một penny tiết kiệm được là một penny kiếm được\"), \"Những vị khách và cá đều bốc mùi sau ba ngày\" vẫn còn là những câu thường gặp trong hiện tại. Sự hiểu biết về xã hội dân gian có nghĩa con người có khả năng biến đổi trong bất kỳ một hoàn cảnh hiện tại, và những độc giả của Franklin luôn có được điều đó. Ông đã bán khoảng mười nghìn cuốn mỗi năm.

Năm 1758, năm ông ngừng viết cho cuốn Almanac, ông xuất bản cuốn Father Abraham\'s Sermon. Cuốn tự truyện của Franklin, được xuất bản sau khi ông chết, đã trở thành một cuốn sách kinh điển của thể loại này.

Những phát minh và nghiên cứu khoa học

Franklin là một nhà phát minh phi thường. Trong số những phát minh của ông có cột thu lôi, đàn armonica, bếp lò Franklin, kính hai tròng, và ống thông tiểu mềm. Franklin không bao giờ xin bản quyền cho phát minh của mình; trong tự truyện ông đã viết, \"Vì chúng ta đang hưởng thụ nhiều sự tân tiến có được từ phát minh của những người khác, chúng ta cần phải sung sướng khi có cơ hội phục vụ những người khác bằng những phát minh của mình; và chúng ta phải làm điều đó một cách thoải mái và hào phóng.\"

Franklin’s first lightning conductor on Benjamin West’s House

Năm 1743, Franklin lập ra Hội Triết học Mỹ để làm nơi thảo luận các khám phá cho những nhà khoa học. ông bắt đầu tiến hành nghiên cứu về điện, và công việc này cùng với những công trình khoa học khác của ông, sẽ tiếp tục theo ông cả cuộc đời, giữa những khoảng thời gian giành cho chính trị và kiếm tiền

Năm 1748, ông thôi nghề in và chuyển sang ngành kinh doanh khác. Ông liên kết với vị đốc công của mình là, David Hall, người đã chia nửa số lợi tức từ gian hàng với Franklin trong 18 năm. Công việc kinh doanh nhiều lợi nhuận này khiến ông có thời gian cho nghiên cứu, và trong vài năm ông đã có nhiều phát minh mang lại danh tiếng cũng như học vị trên khắp Châu Âu, và đặc biệt là tại Pháp.

Trong số đó có nghiên cứu của ông về điện. Franklin cho rằng điện phát ra từ \"thủy tinh\" và \"nhựa cây\" không phải là những kiểu \"chất lưu điện\" (như điện được gọi thời ấy) khác nhau, mà cùng là một chất lưu điện dưới những áp lực khác nhau. Ông là người đầu tiên đặt tên cho chúng là dương và âm, and he was the first to discover the principle of conservation of charge.Năm 1750, ông xuất bản một bài viết đề xuất một cuộc thí nghiệm để chứng minh rằng sét là điện bằng cách thả một chiếc diều trong cơn bão có vẻ sẽ trở thành một cơn bão sét. Ngày 10 tháng 5 năm 1752, Thomas-François Dalibard nước Pháp đã tiến hành thí nghiệm của Franklin (sử dụng một cột thu lôi thép cao 40 foot thay cho chiếc diều) và đã thu được những tia lửa điện từ một đám mây. Ngày 15 tháng 6, Franklin tiến hành cuộc thí nghiệm với diều nổi tiếng của mình tại Philadelphia và cũng thu được những tia lửa điện từ một đám mây (không hề biết rằng Dalibard cũng đã làm điều đó, từ 36 ngày trước). Thí nghiệm của Franklin không được viết ra cho tới khi cuốn Lịch sử và Tình trạng Hiện tại của Điện của Joseph Priestley được xuất bản năm 1767; bằng chứng cho thấy Franklin đã chuẩn bị cách diện (không phải chạm trực tiếp vào đường dẫn, bởi ông có thể gặp nguy hiểm vì điện giật khi sét đánh). (Những người khác, như Giáo sư Georg Wilhelm Richmann tại St. Petersburg, Nga, đã bị giật chết vài tháng sau cuộc thí nghiệm của Franklin.) Trong giấy tờ ghi chép của mình, Franklin chỉ ra rằng ông nhận thức được những nguy hiểm và đã sử dụng những cách khác để chứng minh rằng sét là điện, như được thể hiện trong việc ông dùng tiếp đất. Nếu Franklin thực sự có tiến hành thí nghiệm này, ông cũng không làm nó theo cách thường được miêu tả, thả diều và chờ bị giật khi sét đánh, (bởi điều đó có thểgây nhiều xúc cảm nhưng sẽ dẫn tới tử vong). Thay vào đó ông dùng diều để có được điện thế từ một đám mây bão, việc này đồng nghĩa với sét là điện.

Ngày 19 tháng 10 trong một bức thư gửi tới Anh để hướng dẫn thực hiện lại thí nghiệm đó, Franklin đã viết:

\"Khi mưa đã làm ướt sợi dây diều tới mức nó có thể dẫn điện tự do, bạn sẽ thấy nó phát ra thành tia lửa điện từ chiếc chìa khóa khi để khuỷu tay gần lại, và nếu chiếc khóa đó là một lọ nhỏ, hay một bình Leiden, nó có thể tích điện: and from electric fire thus obtained spirits may be kindled, and all other electric experiments [may be] performed which are usually done by the help of a rubber glass globe or tube; and therefore the sameness of the electrical matter with that of lightening completely demonstrated.

CỘT THU LÔI CHỐNG SÉT

Những cuộc thí nghiệm điện của Franklin đã đưa tới phát minh ra cột thu lôi. Ông đã lưu ý rằng cuột thu lôi nên có đầu nhọn chứ không phải đầu tròn để có thể thu điện một cách yên lặng, và thu được ở khoảng cách xa hơn. Ông phỏng đoán rằng phát minh này sẽ được dùng để bảo vệ các tòa nhà khỏi sét, bằng cách lắp các \"cột thu lôi thép thẳng đứng, nhọn như một cây kip và được sơn phủ tránh han rỉ, và có một hệ thống dây dẫn bên ngoài tòa nhà nối chân những cột thu lôi đó dẫn xuống đất;...Những cột thu lôi sẽ có thể dẫn điện một cách êm ái từ đám mây xuống đất trước khi nó đủ lớn để thành sét đánh, và nhờ thế sẽ cứu chúng ta khỏi sự nguy hiểm bất ngờ và kinh khủng đó!\" Sau một loạt những thí nghiệm tại chính nhà của Franklin, các cột thu lôi đã được lắp đặt trên Hàn lâm viện Philadelphia (sau này là Đại học Pennsylvania) và Tòa Thị chính Pennsylvania (sau này là Independence Hall) in 1752.

Để ghi nhận những nghiên cứu trong lĩnh vực điện cảu ông, Franklin đã nhận được Huy chương Copley của Royal Society năm 1753, và vào năm 1756 ông trở thành một trong số ít người Mỹ ở thế kỷ mười tám được bầu làm Fellow of the Society. Đơn vị cgs của electric charge đã được đặt theo tên ông: một franklin (Fr) tương đương một statcoulomb.

Ngày 21 tháng 10 năm 1743, một cơn bão tràn vào từ hướng tây nam khiến Franklin mất cơ hội quan sát một cuộc nguyệt thực. Franklin nhận thấy gió ưu thế thực tế tới từ phía đông bắc, trái ngược với điều ông từng nghĩ. Trao đổi thư từ với anh/em trai mình, Franklin biết rằng cơn bão đó đã không tràn vào Boston cho tới sau thời điểm nguyệt thực, dù trên thực tế Boston ở phía đông bắc Philadelphia. Ông suy luận rằng những cơn bão không phải luân luôn đi theo hướng gió chủ đạo, một quan niệm có ảnh hưởng rất lớn trong khí tượng học.

Franklin cũng đã nhận thấy nguyên lý làm lạnh khi quan sát trong một ngày trời rất nóng, ông thấy lạnh hơn khi mặc một chiếc áo ướt trong gió nhẹ so với khi mặc chiếc áo khô. Để hiểu hiện tượng này rõ hơn, Franklin tiếp tục tiến hành thị nghiệm. Trong một ngày ấm áp tại Cambridge, Anh, năm 1758, Franklin và một người bạn là nhà khoa học John Hadley thí nghiệm liên tục làm ẩm bình chứa thủy ngân của nhiệt kế bằng ether và dùng ống thổi để làm bay hơi ether. Với mỗi lần bay hơi, nhiệt kế lại chỉ mức nhiệt độ thấp hơn, cuối cùng xuống mức 7 °F (-14 °C). Một nhiệt kế khác thể hiện nhiệt độ phòng là 65 °F (18 °C). Trong bức thư “Làm lạnh bằng Bay hơi” của minh, Franklin đã lưu ý rằng “ta có thể thấy khả năng một người bị lạnh đến chết trong một ngày mùa hè ấm áp.\" Mỗi năm ngành công nghiệp thực phẩm bảo quản lạnh trao một Giải thưởng Franklin Award để ghi nhớ người đã quan sát thấy hiện tượng này.

Những thử nghiệm âm nhạc

Franklin được biết đã từng chơi violin, đàn hạc, và guitar. Ông cũng sáng tác nhạc, đáng chú ý nhất là một bản tứ tấu dây theo phong cách tiền cổ điển, và đã phát minh ra một phiên bản cải tiến hơn của glass harmonica, trong đó mỗi kính được chế tạo để quay trên chính nó, và tay của người chơi để yên, chứ không phải di chuyển, phiên bản này nhanh chóng được chấp nhận tại Châu Âu.


 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Benjamin Franklin  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ hai, 16 Tháng sáu 2008, 10:24 PM
 

TIỂU SỬ NHÀ VẬT LÍ HỌC
CHARLES AUGUSTIN COULOMB


coulomb

Charles Augustin Coulomb (sinh ngày 14 tháng 7 năm 1738 – mất ngày 23 tháng 8 năm 1806) là nhà vật lý Pháp. Ông sinh tại thành phố Angoulême, xứ Pháp. Ông chọn ngành kỹ sư quân sự tại đồn Bourbon, Martinique và đã phục vụ 3 năm đến khi phải giải ngủ vì lý do sức khoẻ . Khi ra khỏi cuộc sống quân ngũ, ông đi làm ở La Rochelle, thuộc đảo Aix và Cherbourg. Ông khám phá ra quy luật liên hệ giữa diện tích và bình phương khoản cách, Về sau quy luật này được đặt theo tên ông là luật Coulomb.

Đến năm 1781 ông thường trú tại Paris. Trong cuộc bùng khởi cách mạng năm 1789 ông từ chức về hưu sống tại ngôi nhà nhỏ ở Blois. Trong thời gian đó, có lần ông được triệu về lại Paris để tham gia việc nghiên cứu về đo lường của chính phủ cách mạng. C.A.Coulomb được Học Viện quốc gia thời ấy cho làm hội viên đầu tiên và đến năm 1802 được chỉ định làm Tổng Thanh Tra . Nhưng sức khỏe ông quá kém và bốn năm sau Coulomb đã qua đời tại Paris. C.A.Coulomb đã nổi tiếng trong nền khoa học cơ khí, điện năng và từ trường. Ông phát hành một quyển sách quan trọng nói về quy luật ma sát vào năm 1779 với đề tựa là "Théorie des machines simples, en ayant égard au frottement de leurs parties et à la roideur des cordages". Và 20 năm sau những ghi chép về tính kết dính đã đựoc viết dựa trên những quy luật này.

Trong năm 1784 Ông có đăng trong cuốn Hàn Lâm Viện Khoa Học (số 229-269) một nghiên cứu về "Lý thuyết và khảo nghiệm sự đàn hồi biến dạng của kim loại" (Recherches théoriques et expérimentales sur la force de torsion et sur l'élasticité des fils de metal).Những bài viết này miêu tả những hình thái khác nhau của chiếc cân xoắn Coulomb. Ông đã rất thành công trong việc dùng dụng cụ đo lường quan sát về sự phân bố điện tích trên mặt vật thể , qui luật vế điện năng và từ trường và những lý thuyết toán học mà ông được coi là cha đẻ của chúng.

Trong năm 1785 Coulomb đả đưa ra 3 trình án về Điện Năng và Từ Trường:
- Premier Mémoire sur l’Electricité et le Magnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học, số 569-577, năm 1785). Trong đây ông diễn giải cách : "Làm thế nào để tạo ra và sử dụng 1 chiếc cân xoắn dựa trên đặc tính của sơi dây kim loại có lực xoắn đàn hồi tỉ lệ với góc quay". Ông cũng cho ra quy luật giải thích về "Ảnh hưởng hỗ trợ của hai dòng điện cùng loại"

- Sécond Mémoire sur l’Electricité et le Magnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học, số 578-611, năm 1785). Trong đây ông nói về "Cách áp dụng quy luật vế điện năng và từ trường thuận nghịch (hút và đẩy).

- Troisième Mémoire sur l’Electricité et le Magnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học số 612-638, năm 1785) nói về "Điện năng hao hụt theo thời gian vì ảnh hưỡng của không khí ẩm hay vì tính chất ít dẫn điện".

Ông Coulmb nói về quy luật hút và đẩy giữa các điện tích và cực từ trường mặc dù ông không thể giải thích sự liên hệ giửa của hai lực đó. Ông cho rằng sự hút và đẩy đó là do hai dòng điện lực khác nhau.

Đơn vị của điện tích trong hệ SI, Coulomb (C), và quy luật Coulomb đã được đặt ra theo tên của ông.

Định luật Coulomb

Giữa 1785 và 1787, Culông Charles Augustine de nhà vật lý Pháp thực hiện một loạt những sự thí nghiệm liên quan đến những điện tích, và dần dần thiết lập Định Luật Culông. Theo luật này, lực Giữa Hai điện tích xuyên tâm, vuông góc với nhau, và cân đối đối với kết quả của sự tích nạp. Hai điện tích giống nhau đẩy nhau, trong khi Hai điện tích không giống nhau hút nhau. Giả thiết Hai điện tích đó, q1and q2, được đặt tại những vectơ vị trí r1 và r2. Lực điện lên điện tích thứ 2 được viết:

Một lực bằng và đối nhau tác động lên điện tích thứ nhất, dưa theo định luật Newton 3. Đơn vị của điện tích là (C) culông. Cường độ của điện tích lên trên Một electron là 1.6022 x 10 ^- 19 C. Hằng số chung (E)được gọi là hằng số điện môi của không gian trống:


Định luật Cu-lông Có hình thức toán học giống như luật hấp dẫn của Newton. Giả thiết rằng hai khối lượng, m1 và m2 được đặt tại những vectơ vị trí r1 Và r2. Lực hấp dẫn lên vật khối thứ hai được viết

Hằng số hấp dẫn có giá trị

Định luật của Cu-lông và Newton đều là định luật về những lực vuông góc

Tuy nhiên, cả 2 khác nhau ở hai điểm Quan trọng .Trước hết, lực vủa trọng lực luôn luôn hấp dẫn . Hai là, những sự tcường độ của hai lực rấtkhác nhau. xét tỷ lệ của lực điện trường và lực hấp dẫn tác động lên hai vật. Tỷ lệ này là một hằng số, không phụ thuộc vào những vị trí tương đối của các vật, và được cho Bởi

Đối với electron, tỉ lệ giữa điện tích và khối luợng là

Định luật Coulomb phát biểu rằng: lực tương tác giữa hai điện tích điểm có phương nằm trên một đường thẳng nối hai điện tích điểm, có chiều là chiều của lực hút nếu hai điện tích điểm cùng dấu và đẩy nếu hai điện tích điểm khác dấu, có độ lớn tỉ lệ thuận với tích các điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.Chiếc cân xoắn do Coulomb chế tạo đã giúp ông đo đựơc chính xác lực tương tác điện và thành lập nên mối quan hệ này.

Độ lớn của lực được tính theo công thức:

phuong trinh

  • k ≈ 8 987 742 438 F−1·m (hay C−2·N·m2)
  • ≈ 8.854 × 10−12F·m−1 (hay C2·N−1·m−2)

Công thức trên cũng có thể được viết ở dạng véc-tơ

với:

  • là véc-tơ lực
  • là véc-tơ nối hai điện tích điểm được tính theo:

ở đây: là các véc-tơ vị trí của các điện tích điểm.

Vì độ lớn điện tích q có thể là âm hoặc dương nên định luật Coulomb cho rằng lực tương tác có thể là lực hút hoặc lực đẩy.

Định luật Coulomb là một trong các định luật vật lý thể hiện lực giảm theo bình phương khoảng cách, giống định luật hấp dẫn Newton. Hằng số lực Coulomb lớn hơn nhiều lần hằng số hấp dẫn (G) trong SI nên lực Coulomb có độ lớn gấp nhiều lần độ lớn lực hấp dẫn.

Định luật Coulomb chỉ đúng khi lực Coulomb được quan sát trong hệ quy chiếu trong đó các điện tích điểm đứng yên. Khi các điện tích chuyển động, các điện tích gây ra dòng điện, tạo nên từ trường theo định luật Ampere, và tương tác với nhau theo lực Lorentz. Tương tác lúc này có thể coi là tương tác trong điện trường tương đối tính như miêu tả bởi thuyết tương đối của Albert Einstein.

Có thể nói Coulomb nổi tiếng nhất với định luật mang tên ông. Định luật Coulomb mô tả sự phụ thụôc của lực tuơng tác giữa các điện tích điểm vào khoảng cách giữa chúng. Năm 1785, ông viết một bài báo mô tả cân xoắn. Bài báo này mở đầu cho một chuỗi 7 bài báo ông viết về đề tài điện và từ học. Cân xoắn giúp ông đưa ra những tính toán chính xác hơn về lực tuơng tác so với những nguời đi truớc ông. Một vài nhà nghiên cứu khác cũng có những nghiên cứu tuơng tự về điện tích như Henry Cavendish, Joseph Priestly và Charles Stanhope. Thực ra Henry Cavendish bằng thực nghiệm cũng đã tìm ra rằng lực tuơng tác điện là khoảng trong cùng thời gian đó. Tuy nhiên Cavendish chưa bao giờ công bố những kết quả hay thí nghiệm của ông, vì thế mãi đến năm 1879 James Maxwell mới tìm ra điều này. Trong khi đó những nghiên cứu của Priestly về lực đẩy của điện là tiền đề cho những nghiên cứu của Coulomb.

Lực tĩnh điện tổng quát

Để tính lực tĩnh điện giữa hai vật mang điện tích, có thể chia các vật ra thành nhiều vật nhỏ hơn. Nếu phép chia tiến đến một giới hạn nào đó, vật nhỏ mang điện sẽ trở thành các điện tích. Khi đó có thể áp dụng nguyên lý chồng chất cho lực tĩnh điện (hay còn gọi là nguyên lý tác dụng độc lập).

Lực tĩnh điện do N điện tích điểm gây ra bằng tổng vectơ của lực tĩnh điện do từng điện tích điểm gây ra.

Có thể định nghĩa môi trường xung quanh một vật mang điện là điện trường. Khi một vật khác nằm trong môi trường này, lực tĩnh điện vật đó sẽ chịu là:

F = q E

với q là điện tích của vật đó và Ecường độ điện trường của điện trường.

Cân xoắn:

can xoan

Schematic of the Torsion Balance (sơ đồ cân xoắn)

Cân xoắn hoạt động bằng cách cô lập điện tích (sử dụng chất cách điện) và chuyển lực tương tác thành mômen xoắn để việc tính toán dễ dàng và

chính xác. Cân xoắn của ông có 2 quả cầu nhỏ đụơc tích điện, một quả cố định gắn ở đầu một thanh thẳng đứng, quả kia linh động gắn ở đầu một thanh nằm ngang. Thanh này đuợc gắn với một sợ dây mảnh bằng bạc gắn với thuớc đo độ xoắn. Sự sắp xếp này giúp lực tuơng tác điện đuợc xác định bằng cách chuyển lực thành mômen xoắn. Trong khi những nguời đi truớc Coulomb mới chỉ phát triển đuợc những dụng cụ có thể chỉ ra đựơc sự có mặt của điện tích thì cân xoắn của Coulomb đã có thể tính toán đuợc số luợng điện tích.

I

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: CHARLES AUGUSTIN COULOMB  
HÌnh đại diện Phạm Thị Ngọc Phương
Bởi Phạm Thị Ngọc Phương - Thứ ba, 8 Tháng bảy 2008, 08:22 PM
 
h1


Sinh

14 tháng 3, 1879(1879-03-14)
Ulm, Württemberg, Germany

Mất

18 tháng 4, 1955 (76 tuổi)
Princeton, New Jersey, U.S.

Nơi ở

Germany, Italy, Switzerland, United States

Công dân

German (1879–96, 1914–33)
Swiss (1901–55)
American (1940–55)

Dân tộc

Jewish

Ngành

Physics

Học trường

ETH Zurich

Người hướng dẫn LATS

Alfred Kleiner

Nổi tiếng vì

General relativity (Thuyết tương đối rộng)
Special relativity (Thuyết tương đối hẹp)
Brownian motion (Chuyển động Brown)
Photoelectric effect (Hiệu ứng quang điện)
Mass-energy equivalence (Tính tương đương giữa năng lương và khối lượng)
Einstein field equations
Unified Field Theory
Bose–Einstein statistics (Thống kê Bose - Einstein)
EPR paradox

Giải thưởng

Nobel Prize in Physics (1921)
Copley Medal (1925)
Max Planck medal (1929)

-Trích từ Wikipedia-

 
Từ khoá:
Thêm chú thích: Einstein  

Trang:  1  2  3  4  5  (Tiếp theo)